Viết về Tạ Ký

***

http://quangda.net/NhungCuocTinhTho.htm

Những Cuộc Tình Thơ  /  PHẠM PHÚ HAY 

***

Trong mỗi người chúng ta, ở tuổi thiếu thời, có lẽ ai cũng trải qua một vài cuộc tình đáng ghi nhớ. Bây giờ, nó đã trở thành những kỷ niệm vàng son nhung gấm không thể nào quên ! Những cuộc tình thơ mà tôi muốn đề cập nơi đấy là những cuộc tình êm ả, nhẹ nhàng, lãng mạn, thơ mộng, vô tư, đôi khi thoáng qua nhưng hầu hết đều bị chia cắt, dở dang, không thành, âm hưởng của nó lại bị. vò xé tâm tư tình cảm một cách nghiệt ngã, sâu sắc. Nó có thể là dấu ấn tuyệt vời, nhưng đồng thời, nó cũng có thể là suy tư trăn trở trong suốt chiều dài cuộc sống :

“Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy
Ngàn năm hồ dễ đã ai quên!”

Qua văn học sử Việt Nam cũng như trên thế giới chúng ta thấy rõ điều đó – nghìn năm trước, vạn năm sau – nhà nghệ sĩ bất kỳ ở môn phái nào, từ văn, thơ, họa, nhạc đến phim ảnh, kịch trường, tất cả họ đều đưa tâm linh vào sáng tác, nghệ phẩm. Nhìn cuộc tình của người nghệ sĩ thường trắc trở, bi ai được diễn tả, gởi gắm vào tác phẩm một cách tinh tế, sống động, lôi cuốn thu hút người xem đôi khi nội dung câu chuyện chính là phản ánh bản thân tác giả! Lịch sử những cuộc tình thơ đó được nhắc nhở, tô điểm, huyền thoại hóa qua nhiều thế hệ làm phong phú câu chuyện lúc ban đầu. Một Kim Kiều của cụ Nguyễn Du, một Gánh Hàng Hoa, Trống Mái, Ðoạn Tuyệt trong Tự Lực Văn Ðàn, một Hồ Xuân Hương, T.T.K.H, Nguyễn Bính v.v… và tất cả những dàn dựng khác, thành thơ, thành truyện, thành nhạc, thành phim, đời đời vẫn xuất phát từ những cuộc tình trừ số tác phẩm về nghiên cứu, chính trị, kinh tế…

Hồi còn nhỏ, học ở Quốc Học, tôi có may mắn làm quen với một cuộc tình thơ sôi nổi, hào hứng lúc ấy mà chắc chắn nhiều người cùng lớn lên ở thế hệ của ta vẫn chưa quên. Ðó là cuộc tình thơ giữa hai người thơ: anh Tạ Ký (Quốc Học) và chị Phùng Khánh (Ðồng Khánh). Anh Ký với tôi người đồng hương (Quảng Nam) anh có tiếng là học trò giỏi và xuất sắc về thơ văn ở Huế:

“Học trò trong Quảng ra thi,
Thấy cô gái Huế chân đi không đành!”

Chị Khánh, lúc bấy giờ là hoa hậu Ðồng Khánh, tài năng văn chương cũng cân xứng với họ Tạ, một chín một mười. Những buổi chiều tan học đứng bên nầy cầu Trường Tiền nhìn những tà áo dài trắng thướt tha, trên hàng hàng lớp lớp xe đạp, hoặc trên những con thuyền nhỏ nhịp nhàng qua bến Văn Lâu, mới thấy hết được cái đẹp, cái thơ của Huế. Hình ảnh Huế thuở ấy như trăng tròn nằm trong giấc mơ tuổi ngọc chúng tôi vô-tư-lự. Rồi hai người yêu nhau. Từ những tâm sự trong khu vườn xanh ở Vỹ Dạ, Nam Giao, đến những gặp gỡ đêm trăng Bến Ngự, Ðập Ðá, tưởng chừng cuộc tình thơ ấy bền chặt lâu dài…

Tiếc thay, mối tình giữa đôi “trai tài gái sắc’ đã không nên duyên được, để lại cho đời những bài thơ son sắt não nùng.

Xin đọc lại một đoạn thơ của chàng:

“Ai về xứ mộng xứ mơ
Cho tôi gởi một vần thơ tặng nàng
Sông Hương lắm chuyến đò ngang
Chờ anh em nhé, đừng sang một mình!”

Và của nàng:

“Em về xứ mộng xứ mơ,
Bỗng nhiên em nhận vần thơ vội vàng
Sông Hương vắng chuyến đò ngang
Cắm sào em đợi, anh sang một lần”…

Chàng lo lắng:

“Xa xôi nhiều lúc vội quên,
Rằng em gái vẫn chong đèn đọc thơ
Vẫn cầm duyên để đợi chờ
Vẫn trông phượng đỏ hai bờ Hương Giang”…

Nàng trấn an:

Xa xôi cách mặt lòng gần,
Tờ thơ mấy đoạn chi bằng thấy nhau
Ngự Bình mặt trước lưng sau
Vẫn thường thay đổi mấy màu thông xanh
Giận mình chưa đạt lời nguyền
Anh không mong được những thuyền ấy đâu!
Khi mô người bỏ trầu cau
Cho anh biết để ủ sầu lên men
Ðể anh khêu nhỏ ngọn đèn
Viết trang tình sử cùng tên một người!”

Nào ngờ họ sớm chia tay vì tương lai sự nghiệp! Chàng phải vào Sài Gòn theo học Ðại Học (ở Huế chưa mở trường) để nàng ở lại đêm ngày vò võ nỗi sầu. Một thờI gian sau, nóng lòng, Tạ Ký đăng một bài thơ trên báo Tiền Phong, nói lên những uẩn khúc tơ vò trong tâm tư tình cảm:

VIẾT TRANG TÌNH SỬ
Gởi Phùng Khánh
(Tạ Ký)

“Ai về xứ mộng xứ mơ,
Cho tôi gởi một vần thơ tặng nàng
Sông Hương lắm chuyến đò ngang,
Chờ anh em nhé, đừng sang một mình!
Chờ anh kể chuyện tâm tình.
Từ em theo đuổi những hình phù vân…
Thôi em đã lỡ một lần.
Mấy năm đau khổ đã dần vơi vơi…
Nghĩ thương có kẻ sai lời
Nghĩ thương em những mong đời anh nên!
Xa xôi nhiều lúc vội quên
Rằng em gái vẫn chong đèn đọc thơ
Vẫn cầm duyên để đợi chờ,
Vẫn trông phượng đỏ hai bờ Hương Giang
Chiều lên huyền hoặc bướm vàng
Em như công chúa mơ chàng thăm hoa.
Không, em tôi còn mẹ già
Còn đàn em dại cửa nhà cậy trông
Hễ ai nhắc chuyện lấy chồng
Thì em đôi má ửng hồng nên duyên!

Cũng trên tuần báo Tiền Phong, vài tuần sau Phùng Khánh “trả lời” Tạ Ký:

CHÉP TRANG TÌNH SỬ
Gởi Tạ Ký
(PHÙNG KHÁNH)

“Em về xứ mộng xứ mơ
Bỗng nhiên em nhận vần thơ vội vàng
Sông Hương vắng chuyến đò ngang
Cắm sào em đợi, anh sang một lần !
Mùa thu áo biếc bâng khuâng
Chim trời lẻ bạn ngàn trùng nhớ thương !
Con tằm còn để tơ vương
Người thơ còn để mấy đường thơ duyên
Ðêm đêm sông nước u huyền,
Ðêm đêm mơ ước như thuyền sóng dâng !
Xa xôi cách mặt, lòng gần
Tờ thơ mấy đoạn chi bằng thấy nhau !
Ngự Bình mặt trước lưng sau
Vẫn thường thay đổi mấy màu thông xanh
Chờ anh em nguyện chờ anh,
Chờ anh em nguyện miI tình nên duyên!”

Bẵng đi một thời gian lâu, phải có đến 5, 7 năm sau, trên báo Tiền Phong lại xuất hiện một bài thơ, sau đây, gởi Phùng Khánh của Tạ Ký :

XIN
Gởi Phùng Khánh
(Tạ Ký)

“Chỉ xin một nửa miệng cười
Chỉ xin một phút gần người yêu thương !
Chỉ xin một chút dư hương
Ðể làm duyên suốt nẻo đường viễn du !
Tình duyên thì đã tạ từ,
Năm năm đấy nhỉ, thực hư thế nào ?
Má còn làm thẹn hoa đào
Mắt còn làm nhạt ngàn sao trên trời ?
Tóc còn xanh thuở hai mươi
Ðại dương còn sóng hai bờ thuở xưa !
Từ ngày lạc một thế cờ
Ðắng cay nhiều nỗi, ngẩn ngơ, khóc thầm
Trang tình sử, truyện tri âm,
Khổ đau ai thấu được tâm sự này ?
Phong yên từ độ những ngày
Hậu đình hoa, cũng cau mày thế nhân
Ðỉnh đồng chưa vững ba chân
Hai thuyền thì đã phong trần cả hai…”

Cuộc tình thơ Tạ Ký – Phùng Khánh được kết thúc bi đát như thế nào và âm hưởng của nó còn đọng mãi trong tâm hồn hai người, những bạn bè thân hữu của họ. Trước 1975, khi bình đọc thơ tôi trên báo Bông Lúa của Nguyễn Vỹ anh Ký có dẫn ra một đoạn thơ của anh cũng mang tâm trạng chán chường :

“Viết một bài thơ buồn nữa đây,
Nhìn qua khung cửa ánh sao gầy
Chao ơi, ba chục năm rồi nhỉ,
Lòng vẫn còn mơ nguyệt Mái Tây!”

Còn chị Phùng Khánh ? Tôi nghe người ta nói, từ đó, chị đi tu, bây giờ là “sư Bà” của một ngôi chùa lớn tại Sài Gòn. Sư bà thuyết pháp rất hay bằng nhiều thứ tiếng và đông đảo Phật tử xa gần ngưỡng mộ.

Anh Tạ Ký sống một cuộc đời rất nghệ sĩ, “lang bạc kỳ hồ, sáng say chiều xỉn” nhưng cư xử với bạn bè và mọi người không ai bằng. Anh chết đi (1979) đã để lại cho hậu thế nhiều thơ văn, “Sầu ở lại” là tập thơ được giải Khôi Nguyên của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lúc ấy. Trong đó cũng không tập trung đủ những bài thơ của anh đã đăng tải rải rác trong các báo, kể cả mấy bài tôi viết hôm nay. Anh còn vợ và hai con hiện sống ở Hoa Kỳ.

Xin thắp nén hương và gởi những lời nguyện cầu đến người bạn lớn tài hoa, kém may mắn.

PHẠM PHÚ HAY
Cali, tháng 6 năm 1997

( Ðặc San Quảng Ðà Năm Mậu Dần 1998) 

***

***

***

Advertisements

12 Responses to Viết về Tạ Ký

  1. Thai Ta says:

    http://www.dongnhacxua.com/buon-y-van-le-dinh
    Chung quanh nhạc phẩm Buồn của Y Vân (Lê Dinh)

    (Nhân nói về nhạc phẩm “Buồn“, DongNhacXua.com xin trích đăng lại một bài viết của nhạc sỹ Lê Dinh đăng trên tờ Nguyệt San Nghệ Thuật số 152/11-2006 do ông chủ biên)
    Nhà thơ Lê Phụng Thiên có gửi đến Nghệ Thuật một lá thư cho biết nhạc phẩm «Buồn» của Y Vân là do Y Vân phổ bài thơ có tựa là «Buồn như» trong Tuyển tập thơ «Sầu ở lại» của nhà thơ Tạ Ký. Nhạc phẩm «Buồn» của cố nhạc sĩ Y Vân do tác giả viết năm 1980. (Xem thủ bút ca khúc Buồn của Y Vân kèm theo). Trong bản chép tay này, Y Vân không có ghi phổ từ bài thơ «Buồn như» của Tạ Ký hay «Ý thơ của Tạ Ký».

    Trong phạm vi sáng tác ca khúc, nếu chúng ta lấy nguyên văn – hoặc gần như nguyên văn một bài thơ nào đó – chúng ta ghi «Phổ từ bài thơ nào của nhà thơ nào» hoặc nếu ta chỉ lấy ý thơ thôi mà không lấy nguyên văn bài thơ, thì chúng ta ghi «Ý thơ của…»

    Trong suốt 32 trường canh của ca khúc «Buồn» với 86 chữ của phần lời, chúng ta thấy Y Vân có lấy nguyên văn 5 chữ «Buồn như ly rượu đầy» (Câu thứ 3 của bài thơ) để làm câu đầu của ca khúc «Buồn», và nguyên văn 5 chữ «Buồn như ly rượu cạn» và 5 chữ «Không còn rượu cho say» để làm lời ca cho từ trường canh thứ 5 đến trường canh thứ 8 (sửa chữ «cho» thành chữ «để» – «cho say» thành «để say»):

    «Buồn như ly rượu đầy
    Không có ai cùng cạn
    Buồn như ly rượu cạn
    Không còn rượu để say…»

    Từ trường canh thứ 9 đến trường canh thứ 16, lời không giống bài thơ, chỉ có ý là có hơi hám của bài thơ:

    «Buồn như trong một ngày
    Hai đứa không gặp mặt
    Buồn như khi gặp mặt
    Không còn chuyện để vui».

    Riêng đoạn giữa, từ trường canh thứ 17 đến trường canh 24 với lời ca:

    «Đôi ta như bước lên đỉnh sầu
    Vì đời lên cao ngất thương đau
    Bao lâu ân ái chưa được nhiều
    Toàn là cay đắng giết thương yêu»

    thì không hoàn toàn dính dáng gì đến bài «Buồn như».

    Và 4 trường canh chót với lời ca:

    «Tình đôi ta thật buồn
    Như lứa hoa nở muộn
    Tình yêu không trọn vẹn
    Buồn mỗi ngày buồn hơn»

    thì cũng hoàn toàn khác hẳn với bài thơ.

    Về ca khúc «Buồn» của nhạc sĩ quá cố Y Vân, nếu tác giả cẩn thận ghi thêm «Ý thơ của Tạ Ký» thì là một điều phải và đúng thì không có gì để nói. Theo tôi, có nhiều nhạc sĩ sáng tác, tình cờ đọc đâu đó một bài thơ có ý lạ, giữ trong đầu ý hay và lạ đó để rồi sáng tác một ca khúc dựa vào ý thơ đã thoáng qua trong đầu nhờ nội dung bài thơ đã đọc mà chắc chắn rằng họ không còn nhớ nguyên văn bài thơ, cùng tên bài thơ và cả tên tác giả. Ca khúc «Buồn» của Y Vân nằm trong trường hợp này và sự việc tương tự đã xảy ra không ít trong giới sáng tác ca khúc. Ngoài ra, chúng ta cũng nên biết rằng Y Vân là một nhạc sĩ có tài, sáng tác rất nhanh, bàn luận với anh tối hôm trước về một đề tài nào đó, sáng hôm sau Y Vân có ngay một sáng tác mới để trình làng và rất hay. Đó là trường hợp của những bài như «Anh về thủ đô», «Người bạn 10 năm qua». «Hát lên nào» v.v… Hoàn thành xong một ca khúc với cả phần nhạc và lời trong vài chục phút, ghi vội lên góc giấy tên tác giả để kịp đưa cho ca sĩ thu thanh, đó là Y Vân và bởi vậy chuyện «khiếm xác» thế nào cũng dễ dàng xảy ra.

    Dưới đây là bài thơ «Buồn như» của Tạ Ký

    Buồn như ly rượu cạn,
    Không còn rượu cho say
    Buồn như ly rượu đầy,
    Không còn một người bạn.

    Buồn như đêm khuya vắng,
    Qua cửa sổ trông trăng.
    Buồn như em nói rằng:
    Nhớ anh từng đêm trăng.

    Buồn như yêu không được,
    Dù người yêu có thừa.
    Buồn như mối tình xưa,
    Chỉ còn dòng lưu-bút.

    Buồn như buồn như thế,
    Buồn như một kiếp người.
    Đây cõi lòng quạnh-quẽ
    Buồn như đóa hoa rơi.
    (Tặng Tôn Thất Trung Nghĩa)

  2. Thai Ta says:

    http://newvietart.com/index3.5111.html
    THẦY TÔI – THI SĨ TẠ KÝ / Phan Văn Thạnh (Saigon,02/9/2013)

    Khoảng tháng 7 năm 1979,dịp công tác HĐ chấm tuyển sinh TH Sư Phạm TP.HCM – được phân cặp chấm với anh Nguyễn Văn Hiệp (Pétrus Ký – Lê Hồng Phong), tôi có dịp hỏi thăm về thầy Tạ Ký . Anh cho biết : trong lần về miền Tây thăm bà con thầy mất vì bệnh ở trại tạm giam(Chợ Mới-An Giang) – Đầu óc lùng bùng,tôi sững sờ như hiểu ra điều gì – thời điểm những năm đầu sau GP vô cùng khó khăn,người đi-kẻ ở,người còn-kẻ mất,đau thương buồn chán rã rời – bi kich lịch sử,số phận dân tộc đến lúc đó thực sự ngấm thuốc – người sống như tê liệt thần kinh không còn thiết tha gì nữa !.

    Lần về quá khứ xa lắc xa lơ, nhớ lại nhiều buổi sáng từ trên hành lang dãy lầu lớp Đệ Nhị A1 nhìn xuống khuôn viên trường rộng rợp cây xanh,bốn ô cỏ chia lối dọc ngang – giữa sân là bệ tượng danh nhân Pétrus-Trương Vĩnh Ký,tôi không sao quên cái dáng ngất ngưởng liêu xiêu,tay xách cặp táp, pipe ngậm trên môi – trông rất phóng cuồng lãng tử đi về phía cuộc đời có thật để “rao giảng văn chương” cho trần thế của thầy tôi-thi sĩ Tạ Ký !

    Giờ học với thầy đôi lúc như cái seminar“bỏ túi”tranh luận các vấn đề văn học,thời sự xã hội.Không hiểu sao bọn trẻ chúng tôi ngày ấy sớm suy tư trăn trở – Tôi còn nhớ khi học đến tác giả Nguyễn Khuyến, tìm hiểu hành trạng cụ Nghè Yên Đỗ – từ quan về ở ẩn trước cảnh quốc phá gia vong, bọn tôi hăng máu bình bàn – có ý kiến chia sẻ cảm thông với tâm trạng “nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc…”nhưng cũng có ý kiến phê phán cho rằng thái độ cáo quan của bậc đại trí thức khoa bảng ,là quay lưng,chối bỏ trách nhiêm với đất nước . – (Đề vào mấy chữ trong bia/Rằng:“Quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu”- Di Chúc). Chắc có lẽ thầy thấy bọn học trò nó nói không sai – trong thầy dường như có tiếng thở dài – tình huống đất nước quá phức tạp dẫn đến nhiều thái độ chính trị phức tạp cứ đè trượt lên nhau …

    Ngày ấy học thầy nhưng bọn chúng tôi hoàn toàn không hay biết mình đang thọ giáo một thi sĩ tài hoa . Cả lớp thỉnh thoảng được nghe thơ Tạ Ký – “Cái tôi cảm xúc” trong thơ thầy là nỗi buồn mênh mang – đám đầu xanh chúng tôi làm sao cảm-thấm hết tâm trạng nhà thơ ?

    Đặt trong mạch cảm xúc thi ca thời đại, hình tượng nỗi buồn như một thứ tâm bệnh thấm sâu vào cảm quan nghệ thuật,tràn ngập thi đàn đương thời (nửa đầu thế kỷ XX) – thơ Tạ Ký cũng không ngoại lệ. Lưu Trọng Lư như “con nai vàng ngơ ngác” (Tiếng Thu)– Xuân Diệu rơi vào trạng thái “Con cò trên ruộng cánh phân vân”(Thơ Duyên) – Tố Hữu “Bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nước/Chọn một dòng hay để nước trôi”(Dậy Lên Thanh Niên)–Huy Cận sầu mênh mang“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”(Tràng Giang)-Vũ Hoàng Chương than oán:“Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa/Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh/Bể vô tận sá gì phương hướng nữa/Thuyền ơi thuyền theo gió hãy lênh đênh ///Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ/Một đôi người u uất nỗi chơ vơ/Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị/Thuyền ơi thuyền xin ghé bến hoang sơ.” (Phương Xa – Thơ Say – 1940)…

    Tạ Ký thì cô đơn uất hận vạch trời kêu chẳng tỏ :

    … “Thuở xưa kia mười tám,hai mươi
    Có chàng trai cười vẫn nở trên môi
    Tin tưởng lắm chuyện trên trời dưới đất
    Nhân Ái,Công Bình,Yêu Đương,Bất Khuất
    Viết chữ hoa trong óc trẻ mười lăm!
    Khi ba mươi biết được chuyện xưa lầm
    Thì đau khổ đã hằn trên trán nhỏ
    Thì uất hận vạch trời nhưng chẳng tỏ
    Rồi cô đơn như một trẻ chăn cừu
    Trên đồi cao nhìn tinh tú luân lưu
    Tôi hốt hoảng như một người phạm tội
    Tôi muốn chạy nhưng mà đường nghẽn lối
    Chúa thì xa Phật cao vút từng không
    Phật tại tâm nhưng tâm đã bềnh bồng
    Tiếng chuông Chúa không ru hồn kẻ khổ
    (Một chiếc linh hồn mang mang thiên cổ)
    (trích Thêm buồn)

    Bài Anh cho em mùa xuân nghe buồn quá sức,là nỗi hoài nghi đau đắng ,thất vọng-“Hút thuốc trong bóng tối /Khói có bay lên không ?”.

    Mỗi đêm một gói thuốc
    Hút nhiều nứt cả môi
    Nỗi buồn không nói được
    Nỗi buồn ăn vào tôi
    Trời mùa đông rừng núi
    Đời mùa đông vô cùng !
    Bánh xe nào tung bụi
    Nhịp chim nào đã ngưng
    “Anh cho em mùa xuân”
    Giọng ca buồn quá sức !
    Cô gái đầu cúi gục:
    -Anh cho em mùa xuân
    Mớ tóc xanh đã bạc
    Mớ môi hồng đã phai
    Anh cho em gió lạ
    Anh cho em mưa dài !
    Trời mùa đông rừng núi
    Đời mùa Đông vô cùng
    Hút thuốc trong bóng tối
    Khói có bay lên không ?

    (Tặng Phạm Công Thiện)

    Gần đây tình cờ được đọc bài “Tạ Ký,Thể Phách và Tinh Anh” của Phạm Phú Minh -(nguồn internet),tôi được biết thêm cuộc đời và số phận khiến thầy Tạ Ký ra khỏi trần gian mà chất ngất sầu buồn còn ở lại !

    – Thầy sinh năm 1928,làng Trung Phước,huyện Quế Sơn,tỉnh Quảng Nam – là một nhà thơ sáng tác rất sớm – đầu thập niên 40 thời còn học tiểu học – giữa thập niên 50 thơ Tạ Ký được nhiều người biết đến khi xuất hiện trên báo chí Saigon (các tờ Đời Mới,Văn Nghệ Tiền Phong…)- năm 1952 rời vùng kháng chiến “nhảy đồn” về thành – học nốt những năm cuối bậc trung học trường Khải Định- Huế – năm 1956 đậu Tú Tài vào Saigòn theo học Văn Khoa và Luật – dạy văn chương tại trường Pétrus Ký từ những năm cuối thập niên 50, “có cung cách một giáo sư-nghệ sĩ “ – bị động viên vào khóa 14 sinh viên sĩ quan trừ bị Thủ Đức”- vẫn tiếp tục làm thơ,cuối thập niên 60 in tập Sầu Ở Lại, được trao giải TT.VNCH đầu thập niên 70 – sau 1975 đi cải tạo (hai năm) diện biệt phái ngành giáo dục – khi về vẫn được dạy lại – năm 1978 thôi việc.- về Chợ Mới tìm bạn đồng hương (anh Cả Triêm) – đến ngày 25/12/1978 bị bắt về tội cư trú bất hợp pháp – vào trại khai tên khác,bị nghi ngờ và giữ lâu trong trại – do bệnh xơ gan cổ chướng tái phát nặng,mất lúc 13 giờ,thứ Hai, 19/3/1979 (nhằm ngày 22/2 Kỷ Mùi) tại bệnh xá huyện Chợ Mới,tỉnh An Giang- Hơn hai mươi năm sau – dịp Thanh Minh Tân Tỵ (ngày 5/4/2001), hài cốt thầy Tạ Ký được mang về cải táng tại nghĩa trang Gò Dưa,Thủ Đức,cạnh mộ thi sĩ Bùi Giáng .

    – Phạm Phú Minh đại diện “trần gian” nói lời cuối cho vẹn ân tình: “Linh hồn anh từ lâu chắc đã tìm thấy sự yên ổn,sau khi thoát cuộc đời với nhiều bệnh hoạn,sầu muộn,sợ hãi.Và chúng ta ,sau khi đã tìm lại được anh,đặt anh lại vào một chỗ tương xứng trong cuộc đời cũng như trong lòng người,chúng ta cũng thấy yên ổn.Bậc tài hoa thường cho đời nhiều hơn là nhận lãnh về phần mình,vậy đời,về phía mình,cũng phải biết trân trọng phần thể phách lẫn phần tinh anh của bậc tài hoa”.

    . Tạ Ký – một tiếng thơ buồn thủng thấu trời xanh !

    Riêng tôi kính nhớ thầy – xin thắp muộn nén hương lòng .

  3. Thai Ta says:

    http://www.petruskylhp.org/tho%20nho%20ta%20ky.htm
    Nhân ngày giổ GS Tạ Ký hai GS Lê Văn Đặng & Võ Văn Vạn có gởi các bài thơ

    1) Nhớ bạn Tạ Ký của GS Lê Văn Đặng
    http://www.petruskylhp.org/nho%20ta%20ky.pdf

    2) Trầm Vân (GS Võ Văn Vạn) họa bài Sầu ở lại và Buồn như của Tạ Ký

    Ly Rượu Sầu

    Bạn ơi cạn chén rượu sầu
    Buồn vui bắc mấy nhịp cầu qua sông
    Dòng đời bến đục bến trong
    Thả thân bèo bọt trôi dòng thời gian
    Cạn ly sầu dốc ngút ngàn
    Cạn ly uống những canh tàn lệ sương
    Đời qua bao nhịp đoạn trường
    Quàng vai tìm chút dư hương xa vời
    Bạn bè trăm đứa trăm nơi
    Vì đâu vật đổi sao dời lắc lay
    Bạn thì thằng chết lất lây
    Thằng thì thân cố kéo cày mà đi
    Rượu sầu uống cạn bao ly
    Cho vơi dòng lệ thân ghì xót xa ?
    Trầm Vân

    ///////////////////////////
    Buồn Như

    Buồn đêm sương rớt về đâu
    Vầng trăng trôi lạc bên cầu ngẩn ngơ
    Buồn như tôi vẫn đợi chờ
    Em về tóc thả hương mơ rối bời

    Buồn như ly rượu cạn rồi
    Dốc sầu hoang phế không nơi tìm về
    Buồn như đêm rượu tỉnh mê
    Thừa trăng thiếu bạn bốn bề quạnh hiu

    Buồn như lá đổ bao chiều
    Mùa thu ẩn giấu bao điều đắng cay
    Tình người đen trắng đổi thay
    Thời gian úp mặt vào ngày không tên

    Buồn như chơi cuộc trốn tìm
    Mây đen bịt mắt trái tim mù lòa
    Khi gần lại thấy như xa
    Mù xa lai thấy chói lòa bình minh

    Buồn như kiếp sống phù sinh
    Nổi trôi thân phận nép mình bão giông
    Mưa rơi cuối bãi đầu sông
    Dã tràng xe cát vào dòng hư vô
    Trầm Vân

  4. Thai Ta says:

    http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=8118
    Chuyện kể về bài thơ “Ruồi Và Em” của Tạ Ký / Trịnh Cung

    Có lẽ trong lịch sử văn học Việt Nam, không có nhà thơ nào lại có thể viết được một bài thơ tình từ những con ruồi xanh gớm ghiếc bu đầy miệng hố xí, mà lại là những hố xí lộ thiên miệng rộng 2m, dài 3m nằm dọc theo hàng rào kẽm gai của trại “cải tạo” những sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà bại trận ngày 30/4/1975. Và cũng chỉ có chiến thắng lịch sử của quân cộng sản Bắc Việt vào ngày này mới đẩy hằng triệu người Miền Nam bỏ nước ra đi dù phải mất tất cả những gì yêu quí nhất và đối diện với cái chết, cái tang thương trên biển cả. Cũng trong những thời khắc ác nghiệt như vậy, hàng trăm ngàn sĩ quan và viên chức Việt Nam Cộng Hoà đã bị giam giữ vô thời hạn trong những trại tập trung nằm sâu trong làng mạc và núi rừng Việt Nam theo kiểu “Quần đảo Goulag” của Liên Xô, mang tên là Trại Cải Tạo.

    Tất nhiên, bi kịch thường sinh ra nhiều tác phẩm văn học và nghệ thuật xuất sắc. Các nhà thơ, nhà văn Miền Nam mặc áo lính, rồi trở thành “kẻ tù đầy không xét xử” trong hàng trăm “T” cũng đã thầm lén viết về những gì đã xảy ra trong cái thế giới trừng phạt bị bịt kín hoàn toàn như thế. Trong số đó có nhà thơ Tạ Ký, tác giả của Ruồi Và Em — bài thơ tình đau đớn được khai sinh từ một hố xí của trại “cải tạo” thuộc T6 Long Khánh trong những ngày Tết năm 1976.

    Nếu bàn đến công dụng của hố xí thời đó thì chắc chắn nó chỉ có thể dùng để… đi ỉa, và sau đó là để lấy phân bón cây. Nhưng ở trại của chúng tôi, nó có thêm một chức năng đặc biệt quan trọng và hệ trọng: liên lạc với “thế giới tình cảm bên ngoài”. Nơi “hôi thúi ruồi nhặng”, nơi mà ai cần lắm mới ra đó, đã trở thành nơi chúng tôi nhận tin gia đình và găp mặt người thân mà không bị quản giáo phát hiện, bởi nó nằm ngay rìa đường đê ruộng rẫy của nông dân, chỉ ngăn cách với bên ngoài bằng hàng rào kẽm gai. Chúng tôi thường thay phiên nhau ra ngồi “trực” ở đó để chờ nhận những tin nhắn — những diễm phúc oái oăm — từ bên ngoài vội vã đưa vọng vào. Chính ở nơi đó, bọn tù nhân chúng tôi đã gặp được mẹ hoặc vợ con đã không quản gian lao cất công đi tìm chồng, tìm con, tìm cha, dù chỉ để nhìn thoáng thấy mặt nhau trong giây lát hay nói thật nhanh một câu báo tin nhà đã được rút ngắn nhất có thể. Để gặp được chúng tôi ở bên trong trại, họ đã phải mượn quần áo làm đồng, cuốc xẻng của những nông dân sống gần trại để nguỵ trang và nhờ chính những nông dân này che giấu, dẫn đi men theo hàng rào kẽm gai như những người dân đi làm ruộng tình cờ ngang qua hố xí. Chính ở nơi đó, chúng tôi đã nôn nao ngồi chờ những diễm phúc vọng vào. Những diễm phúc mà bất kỳ cho ai thì mình cũng cảm thấy có sức nén tức ngực như cho mình, đại loại như: “Tạ Ký, mẹ gặp lúc 2 giờ trưa nay!”

    Ðúng vào phiên tôi ra ngồi trực ở hố xí sau giờ cơm trưa, nghe được một lời nhắn như thế, tôi vội chạy vào báo tin cho anh Tạ Ký trong lúc anh đang mệt mỏi ngồi ở một góc lán cách lán tôi chừng 20 mét. Anh nhướng đôi mắt thật lớn sau cặp kính lão để đón một tin vui bất ngờ sau nửa năm chưa được thăm nuôi. Và mọi sự đã diễn ra suôn sẻ để anh được gặp bà mẹ ngay tại cái hố xí ấy như đã hẹn. Thế nhưng, sau đó, khi trở vào chỗ nằm, anh yên lặng hoàn toàn. Cả tuần tiếp theo, tôi cũng không thấy anh sang chơi, hút thuốc lào và tán gẫu như mọi khi. Sợ anh ốm, tôi rủ vài bạn sang thăm anh, có mang theo thuốc lào, ít trà và mấy tán đường mía. Dưới thứ ánh điện vàng quạch hiu hắt, chập chờn cũng như mọi đêm ở đây, hôm ấy — một đêm cuối năm — khiến khuôn mặt của nhà thơ Tạ Ký vốn đã gầy và buồn lại càng âm u hơn bao giờ. Anh lấy từ túi áo ra một tờ giấy xé vội từ cuốn tập học sinh đưa cho tôi và nói:

    Vừa rồi mẹ tôi lên, dẫn theo thằng con. Tôi nghe nó cứ liên tục hỏi: “Cổng trại bố ở đâu hả bà nội?” Và mẹ tôi bảo: “Ở đằng kia, con chạy tới đi.” Rồi bà nói vội vào cho tôi nghe: “Vợ con nó lấy thằng đại tá Việt cộng rồi. Ở nhà có mẹ lo sắp nhỏ, con yên tâm. Khi được phép, mẹ sẽ đi thăm con…”

    Rồi anh nói với tôi: “Cung đọc cái này đi, tôi mới viết…”

    Ðó chính là bài thơ Ruồi và Em mà tôi còn nhớ rõ từng con chữ đau đớn, dù bao nhiêu năm tháng đã qua đi, nhất là mỗi độ xuân về.

    Ruồi Và Em

    Ruồi từ hố tiêu bay lên
    Tiếng ruồi lao xao như sóng gợn
    Mắt ruồi nâu làm nhớ tóc Tây phương
    Ruồi đậu trên dây thép gai như chuỗi hạt huyền
    Anh tặng em ngày cưới
    Ruồi đậu trên dây thép gai như những nốt nhạc
    Dây thép gai kẻ nhạc không đều
    Làm sao em hát
    Có bầy én về
    Không phải để báo tin xuân
    Vì anh biết mùa xuân đã chết
    Có bầy én về tìm ruồi trên giây thép
    Chuỗi hạt huyền vỡ tan
    Anh gọi tên em
    Mấy lần.

    T6, Long Khánh 1976
    TẠ KÝ
    ////////////////

    Phụ chú của Hoàng Ngọc-Tuấn:

    Năm 1978, có một thời gian tôi ở chung nhà với gia đình anh chị Lê Uyên Phương [Lê Văn Lộc – Lâm Phúc Anh] tại đường Nguyễn Trãi, Sài Gòn. Một hôm, anh Lê Văn Lộc đưa cho tôi xem một mảnh giấy có ghi hai bài thơ: 1/ “Ruồi và em” của Tạ Ký; 2/ “Ở đây, thôi ở đây đành” của Trịnh Cung.
    Ðó là hai bài thơ mà anh Trịnh Cung, khi vừa về từ trại “cải tạo”, đã trao cho anh Lê Uyên Phương.
    Suốt mấy hôm liền, tôi thấy anh Lê Uyên Phương lẩm nhẩm đọc đi đọc lại hai bài thơ đó. Rồi anh phổ nhạc… Và, trong một đêm cùng thức khuya uống cà-phê trên căn gác của ngôi nhà ở đường Nguyễn Trãi, tôi đã được nghe anh chị Lê Uyên Phương hát hai ca khúc “Ruồi và em” (phổ thơ Tạ Ký) và “Ở đây, thôi ở đây đành” (phổ thơ Trịnh Cung).
    Ðó là hai ca khúc cuối cùng tôi nghe anh chị Lê Uyên Phương hát trước khi anh chị vượt biển… Và từ đó, tôi không còn bao giờ có dịp gặp lại anh Lê Văn Lộc thân yêu nữa, dù tôi vẫn còn may mắn gặp lại chị Lâm Phúc Anh một lần ở Úc…
    Nhân đọc bài viết trên đây của Trịnh Cung về bài thơ của Tạ Ký, tôi xin chép lại bài thơ của Trịnh Cung để gửi đến bạn đọc:

    Ở đây, thôi ở đây đành
    Ở đây có phố sương mù
    có người như tượng đứng thu bóng chiều
    Ở đây phố núi đìu hiu
    đá mòn mỏi thở nhịp theo hơi người
    Ở đây có kẻ xa đời
    có anh em đứng chia lời buồn quanh
    Ở đây thôi ở đây đành

    sáng ra núi ngóng, chiều mênh mông chờ…

  5. Thai Ta says:

    http://www.haingoaiphiemdam.com/Loi-Thay-Ta-Ky-Nay-Da-Linh-Ung-Do-Ngu-9708
    Lời Thầy Tạ Ký Nay Đã Linh Ứng – Đồ Ngu

    (HNPD) Câu cửa miệng của người xưa để khuyên người ta phải trân trọng đạo thầy trò là câu: nhất tự vi sư, bán tự vi sư: một chữ là thầy, nửa chữ (cũng) là thầy, thì Đồ tôi và các đồng môn của Mùa Văn Hóa (1964) không thể không nhớ đến một ông Thầy… Đó là Thiếu úy Tạ Ký. Ông có khuôn mặt của một triết gia, lúc nào cũng đo đỏ như người say. Đồ tôi lại là người mê thơ văn nên những chuyện liên quan đến Thầy, tôi luôn canh cánh bên lòng. Những lúc đang giảng bài, như bật ra vài cảm tứ, Thầy viết nhanh lên bảng… rồi chẳng cần biết cái đề tài hôm ấy là gì… Thầy và trò cứ như đang ngồi cùng một con thuyền, cùng trôi theo dòng… Có những hôm, ông Văn Hóa Vụ Trưởng (TT Ngô Văn Dzoanh) đi ngang, thấy Thầy Tạ Ký miên man như chuyện ổng cùng nàng thơ đang du sơn ngoạn thủy… Ông nhìn vào vào cái “giáo trình” kẹp ngay cửa ra vào… Biết ngay Thầy đang lạc đề… Ông nhún vai, nhếch mép rồi bỏ đi.

    – Đã gọi ai là Thầy hay Sư Phụ thì vợ của thầy phải gọi là Cô hay Sư Mẫu. Gọi Thầy với Thiếu úy Giảng viên Tạ Ký thì ổn rồi, nhưng nếu gọi Cô với vợ thầy, nhất là gọi Sư mẫu thì hình như có cái gì chông chênh làm sao ấy… Lý do, cô còn quá trẻ, lại đẹp nữa… vì là một trong những giai nhân ngồi bán vé, đằng sau các ô cửa của phòng mát lạnh ở rạp Rex, trong đó có cô…Và nếu ai tinh mắt sẽ thấy ngay rằng, có thể Thi sĩ Tạ Ký và nàng thơ (thường trực) của ông giống như đôi đũa lệch, không lệch về chiều cao mà không xứng hợp về phong cách bên ngoài cũng như những lạc điệu trong những nhịp đập con tim….

    – Hôm nay, đọc tin chuyển từ Đà Lạt, Sau đó. Đồ Tôi nhớ ngay lại đôi mắt lúc nào cũng mơ màng như một người đang buồn ngủ của Thầy. Lúc ấy, ai cũng nghĩ rằng cái vẻ yếm thế của ông bắt nguồn từ hạnh phúc lứa đôi, và những lời nói tưởng như bông lơn của thầy là những câu mỉa mai bình thường. Nhưng, bản tin liên quan mà Đồ tôi đính kèm sau đây, khiến Đồ tôi liên hệ đến cuộc đời của thầy sau này (không phải bắt nguồn từ cái tầm thường nhỏ hẹp của chiếu giường). Đúng như thân phận nàng Kiều…Tài Mệnh Tương Đố….

    – Sau ngày 30 tháng Tư, Thầy giống như bao nhiêu người ngã ngựa khác bị đưa vào trại tù VC. Với Thầy, một chuỗi bi kịch cứ tiếp nhau thành một cái hậu cay nghiệt… Thầy vẫn làm thơ, càng trong nghịch cảnh ý thơ, tứ thơ càng day dứt, đớn đau, mai mỉa…

    – Trở lại với ý chính của bài này, Đồ tôi mời các bạn theo chân bọn học trò ra thăm nhà Thầy (không phải để ngắm sư mẫu xinh đẹp) Mà nghe lại một lời sấm nữa… Cho nên có một lần muốn mục sở thị cái tổ ấm “có không khí hơi lành lạnh” Đồ tôi đã, theo chân Nguyễn Đắc Song Phương và Nguyễn Châu Bàng ra thăm nhà thầy ở khu Chi Lăng, thầy nói: – Đứa nào (Thầy hơn người trẻ nhất trong khóa đồ tôi khoảng non 20 tuổi) ra đây vì vợ tao thì xuống dưới bếp. Còn đứa nào thích nhấm nháp thì ngồi xuống đây với tao… Chẳng nhớ là câu chuyện dẫn dắt từ đâu… Trời Đà Lạt hôm ấy tím ngắt, bàn tay thầy run run chỉ về hướng Bắc nơi cái viền núi mầu lục của ngọn Lang Brian cao xanh:
    – Mọi vật luôn luôn xoay chuyển… Cái gì tưởng là kiên cố cũng sẽ đổ sụp…Như cái ngọn núi kia, sẽ có lúc sẽ tự nghiền nát….
    (…. Lần sạt lở đầu, năm 1970, báo trước sự tan rã của chế độ VNCH…Lần này 2013, đó là một hồi chuông báo tử cho chế độ độc tài đảng trị của cộng sản
    Tôi nhớ đến câu sấm ở miền Trung:
    ……..Bao giờ ngọn núi Lâm Viên
    Tách đôi hai miếng là điềm Cộng tan..)

    Vâng, luật tuần hoàn là Đạo của đất trời vậy!

    Đồ Ngu
    (HNPĐ)

  6. Pingback: Buồn Như – Tạ Ký | xaydungvovi.org

  7. xaydungvovi says:

    THƠ TẠ KÝ / TRIBUTE CHO BA
    Lời Cảm Tạ: Những dòng thơ lưu lại, những dòng thơ đã mất. Những gì muốn nói, đã nói, chưa kịp nói, và không thể nói. Một kiếp người, chớp mắt. Định mệnh đã buộc chặt ba tôi với quê hương Việt Nam và thơ. Định mệnh đã cho ba tôi những tình bạn mà ba tôi vô cùng quí mến. Xin cảm tạ những tình bạn tha thiết, tri âm tri kỷ đó. Một ngàn năm nữa, không biết tiếng Việt có còn không, nhưng cách đây hai mươi mấy năm, trong trại học tập cải tạo, có một người đàn ông tối tối lén lút trùm mền viết thơ trên giấy đi cầu tơi tả, và Tết đến, thầm thì đọc những dòng thơ ai oán cho bạn đồng tù nghe, để họ được khóc. Hình ảnh đó là tinh túy của ba tôi. Tập thơ này là một cảm tạ, tới quê hương, tình yêu, và Thượng Đế. /// Tạ Thái, 2001
    https://thaita.wordpress.com/taky/
    https://thaita.wordpress.com/taky/diary1978/
    https://thaita.wordpress.com/taky/tribute/
    https://thaita.wordpress.com/taky/tuong-niem/
    https://thaita.wordpress.com/taky/viet-ve-ta-ky/
    http://xaydungvovi.org/2014/08/23/buon-nhu-ta-ky/
    http://xaydungvovi.org/thaita/family1/

  8. Pingback: ThaiTa.wordpress.com | Thai Ta's Blog

  9. nguyen huu hiep says:

    Thầy ơi! gần đây khi gặp lại bạn học PK, con có hỏi thăm về Thầy mới biết là Thầy đã ra đi.Sau GP, con cũng lưu lạc để mưu sinh, để vực dậy gia đình bị phân ly; bao nhiêu nổi buồn cũng không biết tỏ cùng ai… Con vẫn cứ nhắc đến sự nghiêm khắc của Thầy nhưng chính nhờ sự nghiêm khắc đó đã rèn cho con một ” bản lĩnh ” để con phần nào ” chiến thắng ” được đường đời gian truân, một cánh chim lạc loài với ước vọng xây dựng lại tổ ấm của đại gia đình. Giờ này, con đã hoàn thành được ước vọng. Trong gian khổ mới biết được ” làm người ” cần cái gì. Đó là chữ TÂM mà Thầy đã dạy cho con 3 năm liên tục từ 1972-1975. Giờ đã biết được Thầy ở đâu, con sẽ đến viếng Thầy để cầu mong Thầy được thảnh thảng nơi suối vàng và sớm siêu thoát nơi miền CỰC LẠC. Số và Phận dù được người đời ghép gần nhau nhưng nó lại cách xa để cho bao nhiêu đáp án, đáp án cuộc đời; đôi khi nghiệt ngã, đôi khi phiêu linh và chỉ một lần Hạnh phúc.

  10. nguyen huu hiep says:

    Chiều nay đến viếng mộ Thầy, thắp 3 nén nhang cầu mong Thầy được sớm siêu thoát. Cảnh vật rồi sẽ xoay vần như những màu sơn trên bia mộ Thầy cũng dần nhạt phai, những chân đèn cũng gãy đổ nằm lơ thơ; không bình cắm hoa nên con cắm 1 bó trên mộ và 1 bó hoa đặt bên tượng Thầy, tượng cũng đã bong tróc màu sơn như thời gian trôi đi, cứ mãi trôi đi nhưng làm sao trôi được tình nghĩa Thầy trò hỡi Thầy.

Comments are closed.