Burung

burung-painting

Truyện ngắn:  Burung  /  1989, Tạ Thái (và nàng “Burung”)

Có lẽ từ một tiền kiếp xa xôi, tôi mắc nợ chàng.  Tôi mân mê tờ aerogram mỏng manh, nhẹ hẫng mà ngẫm nghĩ tới tầm quan trọng định mệnh của nó.  Tôi dò tay theo giòng chữ của chàng.  Theo tên chàng, Saro.  Theo địa chỉ P.O. Box từ Bangkok.  Ngón tay tôi run như tim tôi run.  Gần 4 năm rồi xa cách, hơn 2 năm bặt tin, giờ đây Saro sát dưới da thịt đầu ngón tay mình, thật như cơn run rẩy không kềm hãm, mà giả như ảo ảnh.  Tôi ôm ấp tờ aerogram vào lòng.  Đưa lên ngửi, mùi hương nào đó quen thuộc vô cùng khiến tôi rưng rưng.  Bao đêm dài trằn trọc.  Bao bão tố nội tâm.  Tôi muốn khóc và biết mình không có quyền khóc.  Nhưng đâu ai cấm tôi xót xa — xót xa cho thân phận đàn bà nặng nghĩa cùng chồng, mà nặng tình cùng chàng.

“Em không còn muốn ở lại đây với anh thêm một ngày nào nữa cả.  Em chán quá rồi.  Sức chịu đựng của người nào cũng phải có giới hạn thôi.  Anh không nhớ 4, 5 ngày đầu chúng mình mới đặt chân đến Mỹ, em đã phải đi bác sĩ mỗi ngày để xin thuốc an thần sao?  Anh không nhớ em đã suýt điên sao?”

Tôi đã điên một thời gian, điên thật sự.  Chồng tôi không hề biết, có lẽ không thèm biết.  Chồng!  Chồng?  Chồng tôi là thần tượng của tôi, giấc mơ thành hiện thực, người theo đuổi tôi, bồ, người yêu, chồng tôi, bạn đời, bạn tù, chủ nhân, người xa lạ, kẻ thù…  Không, không!  Tôi không dám thù ai cả.  Lầm lỗi của tôi, tự ái của chính tôi đã định đoạt cuộc đời mình.  Cho tới chết.  Nên trách ai đây?

“Chị Hai ơi, em khổ quá!  Em chỉ muốn chết phức đi cho rồi.”  “Gì nữa đây?  Lại chuyện chồng mầy chứ gì.  Tau đã nói với mầy rồi…  Tại mầy mê nó quá mà.  Mầy chìu chuộng nó quá mức nó mới đì mầy như vậy đó.  Tau có ý nói động tới nó là mầy làm um sùm lên.  Rồi cuối cùng mầy bỏ chị mầy mà đi.  Tau vẫn thương yêu mầy nhiều lắm, mầy biết không?  Mỗi lần nhận được thư của Má, Má chửi tau đủ điều.  Má nói tau bỏ bê vợ chồng mầy.  Má nói tau đi từ 75, giàu sang, bỏ em con đói khổ.  Em con nó phải ở lại Việt Nam gần 10 năm, gánh bao nhiêu khổ cực cho gia đình mình tồn tại tới bây giờ…”  Chị Hai tôi độc thoại rồi khóc thút thít như chị vẫn thường làm mỗi khi tôi than vắn thở dài cùng chị.  “Chị Hai ơi, chắc nội tuần này em về với chị nghe.  Em sẽ gọi để anh chị ra phi trường đón em.  Chuyến này em sẽ dứt khoát.”  “Okay, tau chờ mầy.”

Tôi buông máy điện thoại xuống thẩn thờ nhìn ra cửa sổ.  Lần này nữa là không biết bao nhiêu lần rồi, tôi muốn ra đi, nhưng lương tâm không cho phép.  Chồng tôi khắt khe với tôi quá, mặc dù tôi biết chồng tôi thương tôi.  Tôi lấy ảnh gần 13 năm rồi, lúc đầu tôi yêu ảnh tha thiết.  Rồi dần dần, ảnh làm tôi nản quá!  Nay tôi chỉ biết tôi sống với ảnh vì nghĩa vợ chồng.  Vì những lời thư của Má.  “Con phải thương yêu chồng con!  Con phải luôn nhớ lại những gì trong quá khứ nó đã làm vì yêu con.  Gia đình nó đạo Phật cấm không cho nó cưới con, mà nó vẫn tranh đấu để cưới được con, để rồi hai đứa đã có con với nhau.  Hơn nữa con nên nhớ là Chúa chỉ cho lựa mà không cho đổi.  Thương Má con phải nghe lời Má.  Nếu từ giờ cho tới ngày Má nhắm mắt Má không còn được gặp con nữa, thì đây là lời trối của Má.  Con phải yêu thương chồng con và chung thủy với nó, như Má yêu Ba và chung thủy với Ba, cho đến ngày Ba chết ở trại cải tạo.  Đừng học ở đâu xa…”  Tâm sự với bạn Mỹ làm chung sở, chúng nó bảo, “Only one life to live.”  Chỉ có một cuộc đời để mà sống.  Tâm sự với bạn Việt Nam, chúng nó bảo, “Mầy còn trẻ quá không lẽ chịu đựng vậy hoài cho tới chết?!”  Và giờ, Saro…

Saro!  Saro!  Ôi Saro!  Tờ aerogram chưa mở với địa chỉ người nhận nhà đứa bạn thân mang tới cho tôi sức sống mãnh liệt.  Và nỗi nhớ tê người.  Saro là người thầy giáo dân bản xứ dạy Anh văn cho trại tị nạn năm 85.  Từ những săn sóc, an ủi, vô tình tôi đã yêu chàng.  Chỉ vài lần ngắn ngủi bên Saro, tôi cảm thấy có sự bình đẳng giữa đàn ông và đàn bà, có sự công bằng giữa con người và con người.  Tôi không hãnh diện nhưng không xấu hổ về chuyện tình cảm của mình.  Và cũng không che giấu.  Tôi đã xử dụng tất cả vốn liếng khéo léo, tế nhị của mình để vẫn có thật nhiều kỷ niệm yêu thương cùng chàng, để chồng tôi không hề hay biết hoặc nghi ngờ, để những ai hay biết hoặc nghi ngờ đều thông cảm, che chở, khuyến khích cuộc tình đứng tim này.

Lúc đầu, Saro thương hại, tội nghiệp tôi.  Trong mắt chàng, tôi là một con bé tỵ nạn nhà quê, tóc rối đầy chí, da đen vì cái nắng nhiệt đới khốc liệt, chân không dép bụi bùn khô cứng, bận miếng vải nùi giẻ tạm gọi quần áo, lúc nào cũng ngồi cuối lớp chăm chú ghi chép, ê a mấy tiếng chia động từ Anh văn.  Ông thầy giáo trẻ hỏi mầy không có dép hả?  Con bé (thiệt ra tôi lớn hơn chàng 3 tuổi,  Minh Bảo con trai tôi nếu còn sống đã 8 tuổi rồi, nhưng chàng tưởng tôi nhỏ lắm) trả lời tau không có dép (thiệt ra tôi có chiếc xanh chiếc đỏ, ai mang dép hai màu, kỳ chết!).  Ông thầy không nói không rằng cúi xuống đo gang bàn chân trần trụi con bé.  Hôm sau, ông thầy mang cho đôi dép mới, quần áo mới, tập vở, bút viết, lược chải chí, xà bông.  Mấy hôm sau, con bé học trò lọ lem lột xác, dễ nhìn dễ coi hơn tí xíu, chúm chím cười cám ơn.

Lúc đầu, tôi sợ Saro, ghê ghê người Thái Lan râu ria man dại như hải tặc đó.  Anh văn kém quá bị rớt vô lớp sơ đẳng, không được học lớp bà sơ Thérèse hay lớp mục sư người Mỹ ông Henner.  Rồi ông thầy bảo ba ông ta là Phi Luật Tân với dòng máu Anh Cát Lợi, Tây Ban Nha của ông nội, mẹ là Nam Dương lai Thái, ông thầy nói viết trôi chảy hai thổ ngữ Phi, tiếng Thái, Anh, Pháp, và Nam Dương.  Con bé nghĩ thầm một phần tư máu hải tặc cũng không đáng sợ lắm!  Rồi yêu nhau lúc nào cũng không biết, hai con người của hai thế giới, hoàn cảnh khác biệt, ở một thời điểm mà tình yêu là xa xí phẩm không thực tế.  Chúng tôi yêu nhau tưởng chết được.  Ôi, Saro.

Hơn 2 năm bặt tin và giờ là tờ aerogram.  Tôi ngã người nhắm mắt.  Chồng tôi còn khoảng tiếng nữa mới về.  Đời sống vợ chồng làm tôi quí trọng những giây phút riêng tư của mình.  Hai năm trước, Saro quyết định qua Mỹ sống gần tôi, đi học hay đi dạy, chàng muốn một tương lai với tôi.  Tôi cuống quýt với những dối gian đang bắt kịp mình, chàng nghĩ tôi có ba mẹ rất khó, chồng con tôi đã chết chứ đâu biết ba mẹ tôi đang ở Việt Nam, chồng tôi sờ sờ một bên như cai ngục.  Tôi chấm dứt liên lạc, dọn về Cali, và chịu đựng những cơn khủng hoảng tâm thần vật vã sau đó.  Tôi sống ở hiện tại mà chìm mình trong quá khứ, mà nhắm mắt trước tương lai.  An phận!  Cho tới một hôm, chải tóc trước gương, nhìn mình…  Tôi không cắt nghĩa được những biến chuyển ý nghĩ trong đầu óc, chỉ biết rằng khi đứng dậy, tôi không còn là tôi nữa.  Cái tôi mới là tôi hằng muốn sống nhưng đã không dám sống.  Tôi không chấp nhận định mệnh nữa, (mà định mệnh là gì ngoài lý do cho con người tự an ủi, biện hộ), từ giờ, tôi sẽ nắm định mệnh trong tay, tôi sẽ “tạo” định mệnh cho những người chung quanh.  Tôi sẽ quậy nghiêng ngữa cuộc đời!  Thế là tôi viết cho Saro một bức thư 7 trang, nói hết, gởi đi tháng 3, 1989.

“…  Thế mà lúc nào em cũng mơ ước tới lúc anh sang thăm em.  Em sẽ ôm anh thật chặt để anh không thể nào trở lại Thái được nữa.  Em sẽ hôn anh nhiều hơn đêm chúng mình chia tay nhau, và em sẽ nói với anh nhiều, nhiều lắm, những điều em ôm ấp, giấu kín trong lòng gần 4 năm qua.  Anh hứa đi, anh hứa sẽ tha thứ cho em tất cả nếu những điều gì em sắp nói ra đây sẽ làm anh chua xót, đớn đau.  Cũng như em.  Em cũng đã dằn vặt, xót xa gần 4 năm rồi, Saro ạ.  Em phải nói cho rõ để sau này khi anh đã yên bề gia thất, anh có vợ đẹp con ngoan, mỗi lần chợt nhớ về em, anh cảm thấy vẫn còn thương và an ủi nhiều.  Vì em đã không giấu anh một điều gì, phải không anh?

… Nhiều lúc em nghĩ phải chi anh chết đi có lẽ em dễ quên hơn chăng?  Em biết mình không có quyền đòi hỏi gì cả.  Anh muốn xem em như một cô em gái hay một con học trò hay là một người bạn, hoặc anh muốn cùng khổ với em, điều kiện nào em cũng chấp nhận hết.  Em chỉ xin anh một điều là đừng cắt đứt liên lạc với em, thỉnh thoảng anh viết cho em, dù là những câu thăm hỏi thông thường, để em yên tâm và cảm thấy cuộc đời bớt cô quạnh.  Và nhất là anh đừng phiền giận gì em nghe anh.  Ở Cali này thường hay động đất lắm.  Nếu lỡ em chết còn mang theo niềm giận hờn của anh có khổ cho em không chứ!  Nhưng cũng tại anh.  Tại những chăm sóc, an ủi.  Tại đôi dép anh cho em.  Có ai ngờ đôi dép đó lại là cơn động đất của đời em…”

Chồng tôi về, tắm rửa, đọc báo, đợi tôi dọn cơm như thường lệ, lờ đi vụ chiến tranh tối qua.  “Có gì lạ không em?”  “Không.  Em có gọi cho chị Hai, định bỏ anh.  Có thư của bạn thân bên trại.  Không có gì lạ.  Còn anh có gì vui không?”  “Không.  À em nè, tối qua, anh xin lỗi.”  Có lẽ đó là tiếng xin lỗi đầu tiên của ảnh trong cuộc sống vợ chồng.  Tôi cười ra dấu tha thứ.  Chỉ là vì đêm qua khi chồng tôi muốn ân ái…  Mà thôi, nước chảy qua cầu.  Ảnh biết tôi sẽ không bao giờ bỏ ảnh, trừ khi ảnh muốn ly dị tôi.  Biết tẩy rồi nên ảnh…  Thật ra, tôi cũng không mang tội nói láo khi tôi nói tôi vẫn còn thương chồng tôi lắm.  Nhưng phải chi.  Phải chi…

*****

outdoor-artshow

*****

Tháng 8 năm nay Cali nóng hơn những năm trước nhiều.  Hỏa hoạn, cháy đồi gia tăng.  Mùa đông lạnh hơn để mùa hạ nóng hơn.  Tôi ngồi trước bàn phấn, tỉ mỉ kẻ đường viền mắt.  Tháng 8, 1992, tôi nhìn lại quãng đời 3 năm qua và có cảm giác như mình vừa trải qua một giấc mộng.  Khó tin quá cái ảo ảnh gọi là sự sống.  Tôi mơ hồ linh cảm ở trạng thái nào đó thời gian trở thành vô nghĩa.  Mới nhận tấm aerogram của Saro đây, chàng bảo anh không giận gì em cả, anh muốn em mãi mãi là một người bạn, người tình thân yêu nhất của anh, dù anh cũng đã có tơ duyên mới rồi, anh chỉ tiếc mình không có nhiều thì giờ bên nhau thôi.  Rồi bây giờ là tấm thiệp mời dự buổi triển lãm nghệ thuật ngoài trời trên Los Angeles, nhan đề “Changing Faces of Southeast Asia:  Modern Art Exhibition”  (Những khuôn mặt thay đổi của Đông Nam Á:  Triển lãm nghệ thuật hiện đại.)  Mấy tiếng nữa thôi sẽ gặp Saro, mất tiếng nữa thôi.  Mặt tôi nóng bừng, nhịp tim hối thúc, và mấy ngón tay thì run rẩy, kẻ mắt tô môi mấy lần mà phải bôi đi vẽ lại.  Mấy câu thơ của ai đó xẹt qua óc tôi.  Nhiều thứ xẹt qua óc tôi không kiểm soát được lắm.  “Mai này tôi có gặp người.  Qua bao năm tháng xa xôi gian trần.  Làm sao đây để chào mừng?  Đôi dòng nước mắt, bặt chừng thanh âm.”  Còn lâu, gặp chàng dễ gì mà lạnh lùng như vậy.  Tôi sẽ quấn lấy chàng, hôn anh cho tới ngộp thở luôn.  Lẽ dĩ nhiên phải kéo chàng ra chỗ vắng người trước đã.  Tôi có được 2 ngày cuối tuần tự do, chồng tôi lần này cho phép tôi lên L.A. một mình, tôi viện cớ là con bạn thân đang đau khổ dữ lắm, cần sự an ủi của tôi, nó mới bị chồng bỏ.  Chồng tôi kiểm tra đàng hoàng, tôi còn rủ ảnh đi nữa, nhưng nghe bạn tôi khóc lóc thảm thiết quá ảnh ngán.  Nó đóng kịch hay gần bằng tôi, con khỉ đó, sự thật thì nó mới vừa ly dị xong, hai người bắt tay coi nhau như bạn.  Thế hệ trẻ sau này coi bộ cởi mở quá.  Tôi nói dối một tí để có 2 ngày.  Hai ngày sau 7 năm!  Nếu có tội cũng đáng tội nhỉ?!

Lâu lắm rồi tôi mới vui vỡ trời như vầy.  Lái xe lên L.A. mà tôi ca hát theo mấy bài new wave Việt Nam là biết rồi.  Trong đầu tôi sắp xếp hết những câu tiếng Anh mình sẽ nói cho trơn tru, tưởng tượng những cử chỉ trìu mến, yêu thương cho nhau, tưởng tượng nhiều lắm để kỷ niệm 2 ngày sẽ kéo dài cả cuộc đời, vì biết chừng nào mới gặp Saro nữa.  Có điều tôi tránh nghĩ cảnh chia tay.  Chúa ơi, chắc lại sẽ sống dở chết dở cả tuần sau đó!  Một kỷ niệm xa xưa khiến tôi bật cười.  Hồi đó tôi nói:  “Saro, anh biết không, ba em khó lắm.  Trước 75, ba em cấm em không được lấy người ngoại đạo.  Sau 75, ba em nói muốn lấy người không Công giáo cũng được, nhưng không được lấy Bắc kỳ.  Khi em vượt biên, ba em viết thư bảo muốn lấy ai thì lấy nhưng phải là Việt Nam…”  Saro cười cười tiếp lời:  “Vậy thì mai mốt em qua Mỹ, ba em sẽ nói muốn lấy ai thì lấy, miễn da vàng đầu đen là được rồi.  Chừng nữa người Thái Lan đạo Hồi này mới có hy vọng.”

Ôi, tôi thương cái tính hài hước của chàng biết bao.  Bảy năm rồi chẳng hiểu nó có còn không?  Chẳng hiểu chàng có còn nét gì của ngày xưa?  Tôi ư?  Tôi đẹp ra, trắng ra, trẻ ra.  Ba năm qua tiền bạc dành dụm được đầu tư đúng chỗ, đúng lúc nên chẳng mấy chốc mà tiền đẻ ra tiền.  Hiện giờ thì tôi làm chủ một beauty salon, chồng tôi làm cho Boeing.  Đời sống vợ chồng tuy không khả quan hơn về mặt tinh thần, nhưng không còn xung đột vì chuyện tài chánh.  Gia đình chúng tôi bên Việt Nam ảnh muốn gởi tiền bao nhiêu thì gởi, tôi cũng vậy, khỏi phải so đo, phân bì như trước.  Ít còn ăn cơm ở nhà thì cái cảnh ảnh chờ tôi mời dùng bữa, rồi chê mặn chê lạt, rồi la tôi rửa chén muổng còn dơ để tôi nổi nóng cũng không còn.  Chồng tôi vẫn trung thành, chung thủy với tôi.  Nhiều khi tôi nửa đùa nửa thật kêu ảnh có vợ bé, có bồ nhí đi cho vui, em không giận đâu, ảnh cũng “lì lợm” không thèm.  Chồng tôi không thay đổi, tính xấu cũng như tính tốt.  Chỉ có tôi đã không còn là người con gái ngày xưa ảnh yêu thương nữa.  Sau này khi ảnh biết được tôi lấy ảnh một phần là vì tự ái, lấy cho bỏ ghét những ai phản đối chuyện tình cảm của chúng tôi, khi ảnh biết được trái tim tôi không chỉ có riêng ảnh, không biết ảnh sẽ oán hận tôi không?  Tại sao đời không đơn giản hơn nhỉ?  Không trắng là trắng, đen là đen, mà lại phức tạp cả nghìn sắc xám?  Còn tôi ư, tôi phó mặc Chúa phán xét.  Chỉ biết rằng lương tâm tôi không lên án tôi.  Và lúc này, chỉ biết rằng con tim tôi đang tưng bừng mở hội.

Tôi bước vô khuôn viên khu triển lãm, e dè như cô dâu bước chân tới trước bàn thánh.  Bộ đầm đen bó chẽn thân người làm tôi hơi khó thở.  Chàng thích màu xanh dương và màu đen, không có đồ màu xanh, tôi bận đỡ bộ này.  Giờ dưới ánh nắng tháng 8 như chảo rang, trong khung cảnh thiên nhiên tươi mát, tôi thấy mình hơi lập dị.  Đông người quá!  Tôi đeo kiếng đen vào, giơ tay lùa hất tóc ra sau.  “Saro ơi!  Anh ở đâu?”  Tôi đi lần lần từ gian triển lãm này sang gian nọ, khung cảnh đậm màu qua làn kiếng mát khiến tôi có cảm giác mình đang mộng du.  Rồi tôi thấy chàng.  Saro!  Saro kìa!  Ôi nỗi vui, nỗi đau, thổn thức thổn thức lồng ngực tôi!  Saro, anh yêu quí!

Saro dáng cao, thẳng, trong bộ âu phục màu trắng nhìn sang và Mỹ lạ, nếu không nhờ đôi mày và mắt rất đen, sâu của chàng, tôi có lẽ không nhận ra.  Chàng đang nói chuyện, giơ tay chỉ vẽ với vài người đứng gần, đề tài gì mà có vẻ hứng khởi lắm.  Tôi tháo kiếng mát, vuốt tóc, thầm thì trong tư tưởng.  “Nhìn em đi, Saro.  Ngẩng mặt về phía em, nhìn em đang đứng đây chờ anh.  Tới với em.  Bây giờ.  Ngay bây giờ.”  Chàng ngẩng mặt, nhìn về phía tôi.  Tôi run mãnh liệt.  Saro mở vòng tay, mặt rạng rỡ bước tới.  Đúng giây phút đó, một thiếu nữ đón tiếp vòng tay chàng, phong cách như quen thuộc, gần gủi.  Tôi chớp mắt lia lịa để nhìn kỹ hơn, và tôi đã nhìn đủ hơn để biết.  Saro kéo người thiếu nữ sát bên hông, giới thiệu nàng, rồi hôn thoáng lên môi.  Tôi vội vã đeo kiếng đen vào, nép mình bên một bức bình phong to.  Tại sao mình ngây thơ, ngu ngốc tới mức quên phắt sự hiện hữu người đẹp của Saro chứ?!  Lẽ dĩ nhiên.  Hắn tới đây phải có nàng, chứ chẳng lẽ đi một mình để gặp mình?!  Ngu!  Ngu!  Ngu!  Lấy lại sự bình tĩnh tạm thời, tôi quan sát tiếp.  Saro đang nắm tay người thiếu nữ, xoay lưng về phía tôi.  Họ đi vào phía trong gian triển lãm, chỉ kịp cho tôi thấy cô nàng tóc nâu ngắn xinh xinh, người da trắng, dáng đẹp, thân hình nảy nở mà thanh lịch.  Mồ hôi đầy mình khiến tôi lành lạnh.  Tôi muốn về.  Lấy tay vuốt nhẹ ngực, tôi có cảm giác choáng váng, muốn xỉu.  Đủ rồi, nhé?  Gặp lại Saro rồi đó, sau 7 năm.  Chàng đã thành công về nghệ thuật như ý muốn, đã hạnh phúc…  Bảy năm…  Ôi!  Con tim tôi!

“Xin lỗi cho sự đường đột, thưa bà, có phải bà là Burung không?”  Một tên Mỹ xa lạ với chùm tóc vàng bó đuôi ngập ngừng cất tiếng.  “Xin lỗi, tôi không hiểu…”  Tôi có mơ không?  Burung?  Bảy năm rồi tôi chưa nghe ai nói chữ đó, giờ nghe từ miệng tên Mỹ lạ hoắc này, tôi thoảng thốt, “Who are you?!  Mầy là ai mà…”  “Oh no, tôi xin lỗi.  Tôi không có ý làm phiền bà.  Chỉ vì bà giống bức tranh Burung của họa sĩ Saro quá nên tôi tò mò.  Xin lỗi bà tôi không có ý làm phiền.  So sorry.”  Tôi ngẩn ngơ, “Burung?”  “Bộ thằng này phá khuấy bà hả?”  một bà Mỹ già gần tôi hắng giọng.  “À không, không, cám ơn bà,”  tôi lắc đầu cười với bà Mỹ rồi quay qua tên thanh niên.  “Ê, xin lỗi anh.  Này anh làm ơn dẫn tôi tới coi bức tranh đó được không?”  Tên Mỹ nhíu mày như dò xét phản ứng hơi kỳ của tôi, rồi cũng cười thân thiện, bảo okay.  “À khoan,” tôi ngừng bước, xoay lại bà Mỹ già, “Bà có thể cho tôi mượn chiếc nón đẹp của bà khoảng 5 phút không?”  Bà Mỹ gỡ chiếc nón rộng vành xuống, “Ồ cô nghĩ nón này đẹp thiệt hả?”  “Vâng, đẹp thiệt.  Năm phút thôi tôi mang lại liền.  Cám ơn bà.”

Thế là tôi, mắt kiếng đen, đầm đen, với chiếc nón rộng vành hoa hòe che sụp mặt, được tên Mỹ có đuôi tóc vàng dắt đi coi “Burung”.  Bức tranh hình vuông, khổ to tướng, đặt trước cổng vào gian triển lãm của Saro, chỗ hồi nãy chàng đứng nói chuyện vài tiếng trước.  Tên Mỹ bảo hắn đang học ngành hội họa, đợi tôi ngắm nghía bức tranh một lúc, rồi hăng say phê bình tại sao hắn thích bức tranh này.  Đúng là tôi đó!  Tôi của 7 năm trước.  Chàng đặt cho tôi cái tên Nam Dương, ngôn ngữ của mẹ chàng, là Burung.  Con chim.  “Vì một ngày anh biết em sẽ cất cánh tung bay, xa Thái Lan, xa anh, xa những tháng ngày tị nạn vất vả.”  Trời bỗng dịu đi bất ngờ.  Tôi ngẩng mặt để thấy một vầng mây to tướng chắn ánh mặt trời.  Và một cánh chim thình lình bay ngang, đúng cảnh, đúng tình.

Một tiếng trước, có tôi bên cạnh bức tranh “Burung”.  Một tiếng sau, có tôi vùn vụt phóng xe trở về Orange County.  Nếu cuộc đời là một cuốn phim dài, phải chi mình được quyền cắt nối những khúc phim cho vừa ý nhỉ? Những đoạn dở dở, chán phèo cắt bỏ hết, chừa lại cuộc đời mình, với tình tiết éo le, xứng đáng được trình chiếu và được thiên hạ bỏ tiền ra xem.  Tôi suy nghĩ vơ vẫn tới cuốn phim của tôi.  Một con người sống thực trở thành một nhân vật, vai trò.  Tôi đã chẳng biến thể thành tác phẩm ưng ý của Saro là gì?!  Mỉm cười, tôi hài lòng về vai trò mình đã diễn xuất.  Trong cuốn phim của Saro, tôi đã góp mặt, đã mang lại chút tiếng cười tiếng khóc, chút ý nghĩa cuộc sống cho chàng.  Giờ là phần thủ diễn của cô nàng tóc ngắn.  Có điều, tôi biết vị thế của mình sẽ không ai có thể thay thế được.  Mãi mãi trong tim chàng có linh hồn của tôi.  Như mãi mãi trong tôi là chàng.  Đòi hỏi gì hơn nữa, phải không?  Dù một lần được vuốt tóc chàng, ôm đầu chàng sát ngực, hôn chàng, thật nhẹ, thật sâu, yêu chàng, và yêu chàng tới khi tận thế.  Tôi thở dài, cắn môi.  Phải quay xe trở lại.  Phải trở lại để ít nhất được bắt tay chàng trước mặt người đẹp.  Tay chàng sẽ ấm lắm.  Phải trở lại để cảm ơn chàng hồi đó, trong lớp học, đã tới bên tôi, lần đầu tiên biểu lộ một tình cảm nhiều hơn tình thầy trò, tình nhân loại.  Cảm ơn chàng đã khóc qua điện thoại, bảo anh vẫn yêu em, dù trước khi nhận bức thư dài 7 trang của em, anh đã được kể hết về hoàn cảnh gia đình em, anh vẫn yêu em, Burung của anh ơi!  Tôi nhìn kiếng chiếu hậu.  Exit phía trước sắp tới, không có xe hai đường bên phải mình.  Vận tốc 65 mi/h.  Lách qua một đường.  Lách qua đường…

Một giây trước, có tôi đang ra lối exit.  Một giây sau, có tôi xoay vòng trong chiếc xe quay tít trên không trung.  Tiếng còi xe.  Đụng.  Thành sắt freeway cong quặp khi xe tôi mất trớn đâm sầm vào.  Tôi bay bổng như chim!  Như con chim thình lình bay ngang lúc tôi ngẩng mặt nhìn coi tại sao trời tự nhiên hết nắng.

Ở chỗ mà không gian và thời gian là vô nghĩa, tôi tư lự.  Nếu con người chỉ được sống một cuộc đời mỗi kiếp người, làm sao nó biết cách nào để sống đây?  Có lẽ tôi tham lam, nhưng tôi còn nhiều đoạn phim muốn đóng lắm.  Như năm 2029, tôi thấy Saro và mình, hai ông bà già lụm khụm, sống trên một hoang đảo, ăn dừa và tắm biển.  Không còn răng, không còn quá khứ, không còn những dính líu ràng buộc nhân gian thế tục nữa.  Chỉ còn Saro và mình.  Và ngoài kia là quả địa cầu không ngừng thay đổi.  Hay năm 1989, tôi thấy mình kể hết tất cả sự thật cho chồng.  Em không muốn giả dối suốt cuộc đời em, anh ơi.  Sự thật là em đã yêu anh rất nhiều.  Những gì anh đã hy sinh, chúng ta đã chia xẻ cho nhau, làm sao có được nếu không có tình yêu.  Nhưng mà phải chi, phải chi, phải chi…  Hay năm 1976, tôi…  Định mệnh là gì ngoài lý do cho con người tự an ủi, biện hộ.  Ai nói với tôi câu đó nhỉ?  Ở một chỗ mà tất cả đã là vô nghĩa, tôi tư lự.

One Response to Burung

  1. Pingback: ThaiTa.wordpress.com | Thai Ta's Blog

Comments are closed.