Thầy Tám giống tượng Ananda

vovi30005

Sáng nay đọc được bài viết của bạn đạo Kim Anh Porter về lúc trước nhìn thấy 1 hình Phật có nét giống Thầy Tám.  Post lại đây cho các bạn xem nhe.  Đồng thời tìm được 1 truyện ngắn về Nan Đà.  Và những hình tượng khác cũng có đôi nét giống Thầy.

*****

http://www.voviphatphap.org/docs/tbvv/2013/TBVV138.pdf

Khoảng giữa thập niên 1980, khi còn ở Bỉ, tôi có vào một thư viện của Mỹ ở Âu Châu đọc sách. Tình cờ tôi đọc được một cuốn sách của một người Mỹ in hình những hình chụp về các tượng, hình trong một bảo tàng viện ở bên Tàu.  Trong đó, tôi thấy một tấm hình rất giống Đức Thầy, mà bảo tàng viện ghi chú là tượng ông A Nan Đà, cho nên tôi vội vàng lấy máy ảnh ra chụp lại. Rất tiếc, tôi quên không chụp hình bìa sách và tên tác giả để có thể tìm lại sau này.
Khi Thầy đến Bắc California lần cuối cùng khoảng năm 2006, và có đến nhà anh chị Hưng & Phụng ở Sacramento. Nhân dịp nầy, tôi chợt nhớ đến tấm hình cho nên trình lên cho Thầy xem và hỏi Thầy có phải là ông A Nan Đà thời đó không? Thầy không trả lời câu hỏi của tôi mà chỉ nói: “Giống y chang”.

Kim Anh Porter, San Jose, 1/6/2013

ananda1ananda2thay8-portrait1

*****

NAN ĐÀ TÔN GIẢ  /  Tác giả:  Quảng Huệ

Luân hồi nhân quả không sai

Không tu ắt phải đọa đày khổ thân.

Đã mấy năm qua. Từ ngày chứng nghiệm chân lý dưới gốc cây Bồ Đề, Đức Phật Thích Ca đã đặt chân lên nhiều kinh thành, nhiều thôn dã, nhiều đất nước để truyền bá đạo Từ Bi. Hàng đệ tử của Ngài càng ngày càng đông. Trên con đường giải thoát cho nhân loại không biên giới ấy, một hôm kia, Đức Phật trở về đất nước quê hương, nước Ca Tỳ La Vệ. Ngài thấy nhân loại đáng thương đang chìm trong sự lôi cuốn của cuộc đời có bà con thân thuộc mình, có… em Ngài, Hoàng tử Nan Đà. Hoàng tử Nan Đà là em cùng cha khác mẹ với Đức Phật. Lúc Phật xuất gia, Nan Đà còn tấm bé, Nan Đà chỉ buồn thoang thoảng vì thiếu sự chăm sóc chỉ bảo của một người anh hiền từ. Thế thôi. Và tuổi trẻ cũng mau quên. Nan Đà lớn lên trong sự hầu hạ ân cần cẩn thận của cung vua. Không như anh. Nan Đà buông theo các thú vui. Cuộc đời bó hẹp lại, nhỏ dần trước mắt người thanh niên ham mê sắc dục. Nan Đà chỉ còn thấy các mỹ nữ trong giọng hát, trong điệu múa, trong những cuộc truy hoan…

Phật trở về giữa sự vui mừng của dân chúng. Ngài ở Tịnh xá và hàng ngày mang bình bát đi khất thực và truyền đạo như trong khi Ngài ở các nước khác. Lối sống bình dị ấy làm mọi người thán phục. Đời sống của kinh thành xáo trộn. Vàng bạc không còn là cứu cánh. Lòng thương yêu nhau, thương yêu đến cả các sinh vật được xem là cao quí. Người ta đã thấy những gì chắc thật của cuộc đời, thú vui chỉ là mong manh chốc lát. Nhà vua đã mở nhiều cuộc bố thí, giảm nhẹ thuế má cho dân chúng. Về phần Nan Đà, Nan Đà cũng cảm thấy vui. Những hình ảnh tươi đẹp của những năm xưa hiện lên. Nhưng trong hai người như có một cái gì khác nhau nhiều lắm, nên Nan Đà chưa dám gặp Phật. Nghe những lời ca ngợi về lòng nhân ái, về cuộc sống bình dị của Đức Phật, Nan Đà tự đối chiếu với mình. Và đã có lúc chàng nghiệm thấy một cái gì mong manh, chóng tàn trong những cuộc vui say, trên nét nhăn mệt mỏi của những mỹ nữ qua những cuộc múa ca.

Một hôm, Nan Đà thức dậy sau một giấc ngủ dài mệt mỏi. Mặt trời đã lên cao. Chưa kịp sửa soạn, chàng đã thấy Đức Phật đang tiến vào nhà. Phật khoác chiếc y vàng, tay cầm bình bát, Ngài đi khoan thai như lùa vào đây tất cả những ánh sáng trong lành của buổi mai. Phật không khác xưa nhiều lắm, vẫn gương mặt hiền lành nhưng thêm phần sáng suốt. Tất cả những hình ảnh trên diễn ra trước mắt Nan Đà đang đứng ngây người nhìn. Đức Phật tiến lại gần, ân cần hỏi han. Lời nói của Ngài dịu dàng làm cho Nan Đà nhớ lại những ngày vui vẻ thuở xưa, hồi ấy Nan Đà nhìn đời một cách đẹp đẽ. Rồi Ngài nói với Nan Đà:

– Từ lâu, ta vẫn thấy bên trong ra có phụ hoàng và em. Chính trong mục đích giải thoát cho loài người rộng lớn và cho những người thân thuộc mà ta thấy được đạo lý. Ta biết em đang khao khát chân thật. Ta đi trước em, ta đã biết rằng hạnh phúc chân thật không thể tìm ở đâu khác ánh đạo. Ánh đạo ấy ta đem về cho em đây.

Nan Đà im lặng, cảm động. Người đứng trước mình là anh, là thầy, là ân nhân? Nan Đà thấy trong người rạo rực một mối tình muốn hướng về đường lành. Chàng cúi xuống thân mến ôm bàn tay của Đức Phật đang đưa ra nâng chàng dậy. Đức Phật âu yếm:

– Đường ta đi sáng như sao nhưng khó khăn trở lực không phải là ít. Mà có sự thành đạt nào không phải mua bằng gian lao, ta đã nghiệm điều đó. Biết em có đủ trí lực để vượt qua không?

Nan Đà ngẫm nghĩ rồi nguyện theo Phật. Chàng sửa soạn rất nhanh chóng. Phật đã tiến ra cửa. Ngài bước đi, Nan Đà theo Ngài, lòng đang dâng lên một cái gì âm ấm, trong sáng như ánh nắng và trời đất tươi đẹp bên ngoài. Hai người cùng tiến về Tịnh xá.

Đến Tịnh xá, Phật bảo các đệ tử săn sóc cho Nan Đà. Người ta thay chiếc áo gấm xanh và khoác cho chàng chiếc áo nâu bằng vải. Người ta dành cho chàng một phòng rộng ngó ra vườn hoa. Nan Đà ngồi xuống chiếc ghế mây rồi nhìn ra vườn. Trăm hoa đang mở rộng tung cánh để đón ánh mặt trời.  Màu hồng tươi mát của đào, màu vàng dịu của mai, màu trắng như tuyết của huệ, nổi bật lên trên màu xanh tươi của lá cây. Đây đó một vài đạo sĩ đang ngồi trên các phiến đá trầm tĩnh niệm Pháp. Trong cái yên lặng, lâu lâu có điểm một tiếng chuông ngân dài. Nan Đà thấy một sức sống mạnh mẽ của muôn cây, một sự rạo rực hướng về đạo của con người. Thật là một thay đổi cực kỳ lớn lao trong tâm hồn vị Hoàng tử thanh niên.

Nhưng rồi có những lúc Nan Đà thiêu thiếu một cái gì. Chàng tiếc rẽ cái áo gấm chăng? Đâu phải thế! Trước đây cũng có nhiều lần chàng ao ước cởi bỏ nó đi để được mát mẻ. Chàng tiếc một cái gì? Đó là các sinh hoạt cũ, cái lối ăn chơi say sưa bên cạnh những người vũ nữ có bàn tay ngọc ngà, có thân hình mềm mại.

Đức Phật thừa hiểu rằng trong một sớm một chiều, Nan Đà chưa thể giác ngộ được chân lý nên chú ý đến Nan Đà nhiều hơn các đệ tử khác. Một hôm, có người mời Phật đi thọ trai, Ngài không đưa Nan Đà đi mà còn kêu đến đưa bình bát cho và dặn nhà múc nước đổ vào cho đầy.  Được ở nhà, Nan Đà vui thích vì chàng thấy có cơ hội trở về thăm cung điện và các mỹ nữ. Biết như thế là sai lầm nhưng có một sức mạnh nào thúc đẩy mãnh liệt. Dầu sao, Nan Đà cũng không quên lời Phật dặn “đổ nước vào bình bát” mà chàng không biết đổ để làm gì. Cái bình bát nhỏ bé này, hãy đổ vào một gàu là đầy ngay và rồi sẽ trở về thăm cung điện cũng không muộn. Nan Đà đem bình bát ra giếng. Chàng xách lên gàu nước và đổ nước vào. Chàng cẩn thận để nước khỏi đổ ra ngoài. Lạ quá! Gàu nước đổ hết rồi mà sao không thấy nước tràn lên miệng bình. Nan Đà cúi xuống xem bình bát có bị nứt không. Tuyệt nhiên không một đường rạn nào, lớp men vẫn liền láng. Chàng múc gàu nước thứ hai, thứ ba, thứ tư và liên tiếp nhanh tay đổ vào. Lạ thật, không có nước chảy ra ngoài mà nước đổ vào biến đi đâu cả. Nan Đà đã mệt nhoài mà bình bát vẫn không được một tí nào cả. Làm sao để về thăm cung điện? Nôn nả quá, chàng để bình bát ngay bên giếng và vụt chạy đi, hẹn trong lòng chốc trở lại sẽ tiếp tục đổ nước vào.

Chạy được một quảng, Nan Đà thấy ở xa có đoàn người đi ngược lại. Chàng dừng lại nhìn. Khốn rồi! Chính Phật và đoàn đệ tử thọ trai về. Nan Đà biết không có cách nào tránh khỏi, bèn nép bên đường, cúi mặt nhìn xuống đất. Phật đến bên Nan Đà hiền lành bảo:

Thôi! Trở lại. Em hãy còn lời hứa đối với ta, còn công việc ta giao chưa làm xong. Hãy tự chiến thắng mình mới đi đến đích cuối cùng.

Nan Đà đi theo Ngài cùng trở về Tịnh xá. Năm hôm sau, trong cuộc du hành thuyết pháp ở cõi trời, Phật cho Nan Đà đi theo, Nan Đà mừng lắm. Đấy là một trong những cõi trời đẹp đẽ và hạnh phúc nhất. Không biết bao nhiêu lâu đài tráng lệ nguy nga. Những chiếc bàn, những độc bình bằng thủy tinh muôn màu rực rỡ. Những vườn hoa với các cây xanh mướt, quanh năm hoa nở thắm tươi và tỏa mùi hương nồng ấm. Ánh sáng một màu huyền ảo. Mặt trời không gay gắt, ban ngày vẫn có sao sáng và ban đêm trời luôn luôn sáng, thứ ánh sáng vàng trắng của những đêm rằm.

Phật đưa Nan Đà đến một cung điện rực rỡ. Các tiên ông râu bạc trắng ra đón tiếp. Phật thuyết pháp cho họ nghe. Trong lúc đó các nàng tiên mời Nan Đà đi xem khắp nơi. Chỗ nào Nan Đà cũng tấm tắc khen ngợi. Rồi các nàng tiên múa cho Nan Đà xem. Những gương mặt tươi đẹp như chưa bao giờ lo buồn, các điệu múa uyển chuyển như còn gởi mãi trong không gian các đường nét mềm mại. Sau đó Nan Đà hỏi họ:

– Ai sẽ có vinh hạnh hưởng cảnh sống êm đẹp trong những cung điện ở đây?

Các nàng tiên nhỏ nhẹ thưa:

– Cung điện, vườn hoa, ánh sáng ở đây đang chờ đón một người tên là Nan Đà, nếu người ấy tu hành được chánh quả.

Nan Đà sung sướng nhẹ nhõm khi theo các nàng về cung điện. Trên đường về Tịnh xá, Nan Đà định hỏi Phật xem lời các nàng tiên nói có đúng không, nhưng không dám, chỉ tự bảo với mình phải cố gắng tu tập. Nhưng biết đến bao giờ mới lên cõi trời sung sướng. Nan Đà nôn nả nên thiếu thái độ hiền từ, tĩnh tâm, định trí. Và cái hăng hái của những ngày mới trở về lần lần phai nhạt.

Một thời gian sau, Phật lại chuẩn bị một cuộc đi truyền thuyết xa và Nan Đà cũng được đi theo. Lần này Phật dẫn chàng xuống địa ngục. Địa ngục bày ra trước mắt Nan Đà trước những cảnh tượng ghê rợn. Đây là một người đàn ông bị ép dưới một tảng đá khổng lồ. Tảng đá lún dần, lún dần trong tiếng kêu thắt nghẹn trong tiếng răng rắc của bộ xương ngực, xương tay, xương chân đang dập nát. Đây là một người đàn bà mang trên đầu một vành lửa đỏ. Tóc của người ấy cũng cháy khét lẹt; và tay bị trói chặt ra phía sau, người đàn bà vừa chạy vừa kêu không ra tiếng người. Nan Đà biết những hình phạt ấy là do sự tàn ác của họ ở kiếp trước nên im lặng đi theo Phật. Gương mặt của Ngài tỏ vẻ vô cùng thương xót và Ngài cầu nguyện cho họ.

Đến một đoạn nữa, Nan Đà thấy trước mặt có năm chảo dầu xếp thành hàng dài trước mặt một cái đền tối om. Năm con quỷ đang sắp sửa đun lửa. Trong bốn cái chảo đã có bốn người không rõ là đàn ông hay đàn bà. Lửa đỏ, dầu gần sôi. Người trong chảo vẫy vùng, chồm lên rồi lại rơi xuống. Tiếng kêu của họ tắt đi trong tiếng sôi sùng sục của dầu, tiếng củi cháy phừng phực. Nan Đà đến gần con quỷ coi chảo dầu thứ năm và hỏi:

– Tại sao trong nầy lại không có người nào?

Con quỷ không nhìn Nan Đà, chăm chú coi lửa và trả lời:

– Chảo không này cứ đun sẵn, để dành riêng cho một người tên là Nan Đà nếu người ấy biếng nhác, không lo tu tập.

Nan Đà giật nẩy mình và không dám hỏi thêm gì nữa. Từ độ ấy về, Nan Đà không một chút nào dám xao nhãng việc tu niệm, chàng lo tụng niệm, thuộc làu kinh kệ. Mãi đến chiều chiều, Nan Đà mới để một ít thì giờ đi dạo ngoài vườn Tịnh xá. Nhưng có một điều là chàng đến chỗ nào, người chỗ ấy đều lánh đi nơi khác. Nan Đà bực lắm. Có một hôm Nan Đà đến gặp Ngài A Nan, Ngài A Nan là em họ chàng và là đệ tử yêu mến nhất của Đức Phật. Thấy Nan Đà đến, Ngài A Nan cũng lánh đi nơi khác. Không thể giữ nổi sự bực bội trong lòng, chàng đến trước mặt Ngài A Nan và lấy lời kính cẩn thưa:

– Xin chú cho tôi biết vì lẽ gì các Ngài và chú lại không muốn gặp tôi. Tôi tưởng đã ở một đạo với nhau, hơn nữa lại là bà con, chú cũng không nên đối xử với tôi như thế.

Ngài A Nan biết không còn cơ hội nào tốt hơn cơ hội nầy để trình bày cho Nan Đà rõ đầu đuôi nên ôn tồn bảo:

– Chúng ta tuy theo một đạo nhưng mục đích chúng ta không giống nhau. Anh nhắm một mục đích khác. Anh tu hành để được lên cõi tiên, để sống trong hạnh phúc, cho riêng anh, tu hành vì sợ cảnh khủng khiếp của địa ngục. Anh Nan Đà ơi! Mục đích của anh hẹp hòi. Phải lấy sự đau khổ của chúng sinh làm đau khổ của mình, xem thường tài sản và tính mệnh của mình, phát tâm thực hành lục độ để giải thoát vô lượng chúng sanh. Đó là mục đích của thầy ta, của chúng ta, của những người tu hành chân chính.

Ngài A Nan dừng lại để Nan Đà kịp suy nghiệm. Rồi âu yếm nhìn Nan Đà Ngài nói tiếp.

– Anh Nan Đà ơi! Đường tu hành còn dài lắm, cho đến khi nào chúng sinh không còn khổ đau. Cho nên không nhìn một mục đích cao rộng, ta sẽ dễ nản lòng thối chí như anh, đã có lần muốn bỏ dỡ công cuộc nửa chừng. Phải can đảm lên anh ạ! Quả lành sẽ đến với chúng ta.

Lời Ngài A Nan đi thẳng vào tâm can, vào trí óc Nan Đà. Từ đó Nan Đà công phu tu luyện với mục đích cao quý giải thoát cho chúng sanh và một ngày kia, bước theo A Nan, Nan Đà trở thành một đệ tử chân chính của Đức Phật, trở thành Nan Đà tôn giả đáng kính mến muôn đời của chúng ta.

//////////////////

Shanxi Province, China, Tang Dynasty, 8th century, marble - Royal Ontario Museum

Shanxi Province, China, Tang Dynasty, 8th century, marble – Royal Ontario Museum

hinhvv (26) hinhvv (57)

*****

Published on Apr 1, 2014

recorded on April 1, 2014
Moving Image Archive Serge de Muller

*****

http://ryanschiell.efoliomn.com/Chinese

Title: luohan

Artist: unknown – found at Yi Xian in Hebei province

Date: Liao dynasty (A.D. 907-1125)

Media: glazed ceramic figure

Dimensions: (HT) 1.03 m.

Source:  Rawson, Jessica; Farrer, Anne; Portal, Jane; Vainker, Shelagh; and Carol Michaelson. The British Museum Book of Chinese Art. New York: Thames and Hudson Inc., 1992. p160

Luohan-British-Museum3

Luohan-British-Museum2

Luohan statue / British Museum

http://depts.washington.edu/silkroad/exhibit/khitans/ps156743.html

Lohan statue  /  Liao dynasty, 907-1125 CE  /  From Yi county, Hebei province, China  /  Stoneware with three-color glaze  /  Height: 1.3 m  /  Acquisition number: #OA 1913.11-21.1  /  Gift of the National Art Collections Fund

Images of lohan, the Chinese transliteration of the Sanskrit arhat, were a very important aspect of early Chinese Buddhism.  In India, the arhat were the disciple of the historical Buddha Sakyamuni; they lived on after his passing in order to spread the Buddha’s teachings.  In China, however, the Lohan were merged with Daoist Immortals, learned sages who, through the deep concentration and the practice of certain Daoist rites and rituals, were believed to have gained magical powers, powerful insights into the workings of nature, and the secret to immortality.  In China, lohan were often given unusual physical characteristics, such as misshapen heads, extremely thin frames and exceeding long eyebrows.

In comparison, this figure, made during the Liao dynasty and discovered in a temple-grotto in Hebei province, is relatively tame.  Only the exceeding large ears offer any indication that this sculpture may be more than a portrait of an  important monk, or the founding priest of a temple.  This figure was found with seven others like it, which is half the usual number included in lohan groups, typically sixteen (though some painted versions of lohan groups can include many hundreds of figures in a single composition).

As noted by experts at the British Museum, the sculptural style used here closely follows that of the Tang dynasty (618-906 CE).1   This indicates that the Khitan patrons probably engaged Chinese craftsmen who worked in isolation in the northern Liao empire, away from stylistic developments occurring in Song-era Buddhist contexts in the Chinese provinces to the south.  Another aspect worth mentioning is the so-called sancai or “three-color” glaze used to decorate the figure’s robes, another preference of the Tang period adopted for the Khitan consumption. The bands of color on the lohan’s yellow robe is intended to represent a patchwork garment known in Sanskrit as a kasaya, which was intended to function as a sign of humility2, though in fact these kasaya could oftentimes be made from extremely expensive silk brocades donated by wealthy patrons.  For more on kasaya, see the section in the Buddhism section devoted to  implements and icons.

*****

vovi30048

Luohan statue / Nelson – Atkins Museum, Kansas City

http://gallery.shambhalasun.com/gallery/buddhist-art/luohan-2

When I made my pilgrimage to the Nelson-Atkins Museum in Kansas City, I saw this Lohan statue in the same room with the Guanyin that is also included in the Shambhala Sun gallery. Seeing both at the same time is more of a darshan—a blessing received simply by seeing a great teacher—than an art experience. “Lohan” is Chinese for arhat, which means one who is self-liberated. The “I-Chou Lohans” came to light in 1913 after pirates found them in a secluded cave where they’d remained unseen for centuries. They are larger than life-size and depict the Buddha’s direct disciples and therefore the awakened state of mind. Trungpa Rinpoche said the sculptor must have created them out of his own advanced realization. It is thought that about eighteen of these statues were created. Only eight have survived, and of those only five are believed to have come to us unaltered. This is one of the most striking of the five intact lohan statues. –Liza Matthews

The statue is from the 10th – 12th century, the Liao (CE 907-1125) to Chin (1115-1234) Dynasty in China. Earthenware with a three-color lead glaze. 40 inches high. The statue is part of the South and Southeast Asian Collection of the Nelson-Atkins Museum of Art, which supplied the photograph.
Learn more about the wonderful work of the Nelson-Atkins Museum at: www.nelson-atkins.org

luohan-head3

Master Luong Si Hang

Master Luong Si Hang

vovi30010a

http://www.penn.museum/blog/collection/125th-anniversary-object-of-the-day/seated-luohan-from-china-object-of-the-day-17/

The Penn Museum’s luohan is one of the most famous and important pieces in the museum’s collection. The fact that it is slightly larger than life size makes it a marvel of technology. Firing something so big  is extremely hard to do without destroying the piece in the process.  The modeled  facial features also imply that the statue is based on an actual person. Numerous articles and talks have resulted from the fact that this luohan comes from a group of similar  sculptures found in a cave in Yi county near Beijing. Luohan statues are known to be created in groups of  sixteen or eighteen although they can reach as many as five hundred. The other luohans found with the Penn Museum statue are at the Royal Ontario Museumthe British Museum, the Metropolitan Museum of Artthe Nelson-Atkins Museum of Art, and the Museum of Fine Arts, Boston. Two other pieces are suspected to be from the same group, one is in the  Guimet Museum collection and the other is in a private collection in Japan.

YouTube video:  The Penn Museum glazed Luohan in context:  Chinese Buddhist Art during the 10th – 12th centuries

http://www.youtube.com/watch?v=2T-EG7Bjcig
Derek Gillman, Executive Director and President of the Barnes Foundation, considers a famous Penn Museum artifact as a jumping off point for this talk. The celebrated glazed earthenware luohan in the Museum’s Chinese Rotunda belongs to the most important surviving (although incomplete) set of Chinese Buddhist ceramic sculptures.  These life-sized figures were discovered during the early 20th century in a cave at Yixian, Hebei province, and are now distributed around the world. There has been considerable debate about their date, as well as their original location, and Mr. Gillman offers some context for them, providing an overview of Buddhist imagery and ritual artifacts, created of stone, clay and wood, made after the fall of the Tang dynasty.

Luohan statue / Penn Museum

Luohan statue / Penn Museum

*****

luohan-britishmuseum-36

http://mickhartley.typepad.com/blog/2008/02/luohan.html

The Luohan in Room 33  /  Mick Hartley, February 26, 2008

When I used to work near the British Museum I’d regularly pop in during my lunch break. I started out exploring different galleries, with some kind of auto-didactic dream that over the course of the years I’d get to familiarise myself with the whole history of human civilisation, but frankly my enthusiasm for self-improvement didn’t last long. The Egyptian stuff, for instance….too many parties of school children, too many mummies, too much bombast. After a while I developed a routine: through the Great Court and up to Room 33, the Asia Gallery, at the back, on the first floor; then a right turn to the end (it’s a long room)…and there he was.

He’s a luohan, or arhat, from the Liao Dynasty (AD 907–1125). Someone who’s realised the goal of nirvana. The description underneath notes his “sombre dignity and power”, which seems about right to me, though I’d maybe lose the “sombre” – nothing grim about this fellow. He radiates serenity, calm, and yes, power. Here he is in the British Museum catalogue, and here posing – somewhat unflatteringly, I think – against a white background.

I went again today. I went to see China Late: Birds, Flowers and Insects, which is one of those wonderful free British Museum exhibitions which count among the joys of living in London. But of course, as I always do when I visit, I had to look in to see my luohan.

He’s still there, looking down the length of the gallery.

Nothing bothers him: not the laughing colleague on his left, nor the streams of visitors who peer at him, or take his picture, or sit on the bench in front of him fiddling with their mobile phones.

I always found him inspiring. Still do. I’m not entirely sure why.

luohan-britishmuseum-33

This figure was made in the Liao dynasty, following the sculptural traditions developed in the Tang dynasty (AD 618-906). It was found with seven others, in a cave in Yi county, Hebei province, northern China. All but one are now in Western museums.

A luohan (Sanskrit: arhat) was a disciple of the Buddha. The luohans had magical powers and could stay alive indefinitely to preserve the Buddha’s teachings. In China, they were often shown in groups of sixteen.

Sets of luohan figures were placed along the side walls of a temple’s entrance, or in groups of pairs on either side of the main Buddha figure. To show respect for the humanity and compassion in their teachings, they were often made to look like particular individuals, with strongly characterized features. This example, with his calm, serious face, represents the aspiration of the educated man to attain enlightenment.

*****

http://www.octavearts.org.uk/visitmuseum.html

http://www.meetup.com/Octave/events/152716302/

Spiritual Art – Hidden in Plain Sight

A visit to the British Museum on Saturday 18th January at 12.00 noon to see ‘The Lohan’. 

This ceramic seated figure of a Buddhist monk, one of a group of eight figures found in caves near Yixian in 1912, has a particular quality of silence and contemplation, yet gives the sense of being extraordinarily alive and full of vitality.

Following our visit we will present a short illustrated talk in central London on the subject of ‘Objective Art’.

Since 1914 a Chinese ceramic Lohan, a realised Buddhist monk, has been in the British Museum. This figure is one of eight similar figures considered to be part of a group which was found in caves at a mountain site near Yixian some eighty miles south-west of Beijing in 1912. This statue has the reputation, in certain circles, of being an example of ‘Objective Art’.

A small group of people from Octave visited the British Museum specifically to sit quietly in front of the Lohan and observe their response to it. When invited to speak of their feelings after the visit, those who did so had clearly received a remarkable uniformity of experience, in particular the sense of an emanation of power registered in the solar plexus, and the strong impression that the figure was actually alive, breathing, the expression fluctuating between a gentle severity and the approach of a smile. Others who independently declared their impressions afterwards all confirmed that this had also been their experience.

“We went to the British Museum to see the Lohan. We stood in front of him for a long time. I looked at the statue and tried to sense him; his posture, his facial expression, his torso, arms, and so on. I felt he is alive and grand. He showed me how I can be as a human being. Solid as an old tree, wind cannot blow him, rain cannot make him miserable, and clouds come and go. He is there – solid. No one can move him. I am small in front of him. His world is huge. His space is limitless. My world is tiny. I wish I could be like him. This is real art.”

*******

MORE PHOTOS OF LUOHAN STATUES

*******

lohan-britishmuseum-354 (2) lohan-britishmuseum-354 (1)

http://www.newyorksocialdiary.com/node/1903822

Denise Leidy, who organized the Buddhist part of the exhibition, stands in front of:  Arhat (Luohan)   Northern China   Yuan dynasty (1271–1368), mid–14th century / Wood with traces of pigment

Denise Leidy, who organized the Buddhist part of the exhibition, stands in front of: Arhat (Luohan) / Northern China / Yuan dynasty (1271–1368), mid–14th century / Wood with traces of pigment

luohan-figure20

Wooden figure of a Luohan (1279-1368 AD), North China

luohan-figure21

luohan-museum407luohan-museum408luohan-museum5000

Statue de l'Arhat Tamrabhadra (musée Guimet)

Statue de l’Arhat Tamrabhadra (musée Guimet)

*****

http://en.wikipedia.org/wiki/Yixian_glazed_pottery_luohans

Yixian glazed pottery luohans

(…) A luohan (often written luóhàn) is the Chinese term for an arhat, one of the historical disciples of the Buddha. As Buddhist tradition developed, and especially in the East Asian Buddhist countries, the number of arhats or luohans tended to increase, and at least the most important were regarded as, or as almost, bodhisattvas or fully enlightened beings, with a wide range of supernatural powers.[4] According to Buddhist tradition, groups of 16, 18 or 500 luohans awaited the arrival of Maitreya, the Future Buddha,[5] and groups were often used in East Asian Buddhist art. The full set is thought by most scholars to have had figures for the typical Chinese main grouping of Sixteen or Eighteen Arhats, although William Watson describes this “usual assumption” as “speculative”. These and earlier smaller groupings of six or eight were each given names and personalities in Buddhist tradition.[6]

(…)

Chinese luohan hall

Chinese luohan hall

*****

http://www.flickriver.com/photos/tags/luohan/interesting/

luohan-445

Sitting Luohan   Light grey limestone sculpture with polychrome glaze from the Ming dynasty, 16th century AD.   Taken in the museum center in Berlin-Dahlem.   Part of the Ethnologisches Museum Dahlem set. https://www.flickr.com/photos/42311564@N00/260778629/in/set-72157605265868500

Sitting Luohan
Light grey limestone sculpture with polychrome glaze from the Ming dynasty, 16th century AD.
Taken in the museum center in Berlin-Dahlem.
Part of the Ethnologisches Museum Dahlem set.

https://www.flickr.com/photos/42311564@N00/260778629/in/set-72157605265868500

luohan-song-dynasty3

Large Sancai figure of a Luohan, Ming Dynasty (1500 - 1525)

Large Sancai figure of a Luohan, Ming Dynasty (1500 – 1525)

http://www.janvanbeers.com/oriental-art/d/large-sancai-figure-of-a-luohan-ming-dynasty/16109

The figure covered in green, yellow-brown, black, turquoise and cream glazes, seated in meditation holding a manuscript in the left and prayer beads in the right hand.

This figure was part of a group of 16 or 18 Luohan from a temple and was originally seated on a pedestal. The dating is based on research done by Dr Patrizia Jirka-Schmitz on a figure of the same group in the Museum of Far Eastern Art in Berlin. The Metropolitan Museum of Art in New York houses a Parirnirvana group with several small Luohan statues dated and signed by Hui Tai. The correspondence of the facial features and the treatment of the garment folds between these Luohans and the one in Berlin is so surprising, that she attributes the Berlin figure with some certainty to the school of Hui Tai, if not to the artist himself. Figures of the same group also appeared in the Drouot sale in February 1932 from the collection of Paul Houo-Ming Tse.

*****

 

KOBO-DAISHI (KUKAI)  /  Japan (774 – 835)

Poet Kūkai, also known posthumously as Kōbō-Daishi, 774–835, was a Japanese monk, civil servant, scholar, poet, and artist, founder of the Shingon or “True Word” school of Buddhism. Wikipedia

Born: July 27, 774 AD, Zentsuji, Kagawa Prefecture, Japan  /  Died: April 22, 835 AD, Mount Kōya, Kōya, Wakayama, Wakayama Prefecture, Japan

http://www.shikokuhenrotrail.com/shikoku/daishihistory.html

http://www.shingonbuddhism.org/information/kukai/

kobo-daishi-kukai (4)

kobo-daishi-kukai (5)

Kobo Daishi (KuKai)

*****

Head of the Disciple Ananda

Freer Gallery of Art
Gift of Charles Lang Freer
F1913.134

From 2005–2008, the Xiangtangshan research team of the University of Chicago photographed and scanned scores of sculptures removed from the caves. In 2009, the team collaborated with colleagues at Peking University to scan the South Cave at northern Xiangtangshan. Based on the resulting data, missing elements—including this head and the one above it, which were matched to one of the South Cave’s altars—could be digitally restored to their original settings. The application of this 3-D imaging technique could be invaluable in future attempts to restore damaged sites worldwide.

ananda-southcave-xiangtangshan

This entry was posted in Uncategorized and tagged , , , . Bookmark the permalink.

2 Responses to Thầy Tám giống tượng Ananda

  1. Pingback: Thầy Tám có phải là Phật Di Lạc? | webtoy13

  2. Pingback: ThaiTa.wordpress.com | Thai Ta's Blog

Comments are closed.